Dòng Thánh Tâm Huế, Việt Nam Online

Thách đố đức tin trong đời sống thánh hiến

Chủ nhật - 03/04/2016 06:11
CSC - “Sự thiếu sót hay giảm sút truyền thông thườmg dẫn tới sự suy giảm tình huynh đệ. Nếu chúng ta biết ít hay không biết gì về đời sống của anh em hay chị em mình, thì họ sẽ là những người xa lạ với chúng ta, mối liên hệ sẽ trở nên vô danh”(ĐSHĐTCĐ, số 32)



Bài giảng tĩnh tâm tháng với chủ đề:
THÁCH ĐỐ ĐỨC TIN TRONG ĐỜI SỐNG THÁNH HIẾN
Cộng đoàn Thánh Tâm - Huế, Thị Nghè 02.04.2016
 

Tin Mừng Gioan (20, 1-9)
“Vào ngày thứ nhất trong tuần, Maria Mácđala đi đến mộ lúc sáng sớm, khi trời còn tối, bà thấy tàng đá đã bị lấy ra khỏi mộ. Bà liền chạy đến với Simôn Phêrô và người môn đệ khác - người Đức Giêsu thương mến - bà nói với các ông: ‘Người ta đã lấy Chúa khòi mộ và chúng tôi không biêt họ đê Người ở đâu.’ Vậy Phêrô và người môn đệ khác đi ra và họ đi đến mộ. Cả hai ông cùng chạy, người môn đệ khác nhanh hơn Phêrô, chạy trước và đã đến mộ trước tiên. Cúi xuống nhìn, ông ấy thấy những băng vải còn để đó nhưng không đi vào. Simôn Phêrô theo sau ông ấy cũng đến nơi, đi vào trong mộ và thấy những băng vài còn để đó, và khăn che đầu của Người không để với những băng vài, nhưng cuộn lại để riêng ra một nơi. Bây giờ người môn đệ khác cũng đi vào - người đã tới mộ trước tiên, ông ấy đã thấy và đã tin. Thực ra, các ông chưa hiểu theo Kinh Thánh là Người phải trỗi dậy từ giữa những kẻ chết.”

Gioan bắt đầu câu chuyện của mình bằng cách xác định thời gian xảy ra biến cố: Sáng sớm, ngày thứ nhất trong tuân, lúc trời còn tối. Ở đây giống như lúc khởi đầu việc sáng tạo trời đất muôn vật, ta có thể trông chờ một cuộc tạo dựng mới. Tuy nhiên, nơi xảy ra là một nấm mồ, một nơi chết chóc. Ba nhân vật kế tiếp nhau hành động. Người đầu tiên bà Maria Macđala, như trong tất cả các Tin Mừng khác. Lúc đâu hình như chỉ có một mình bà, nhưng nói “chúng tôi” khi kể lại cho Phêrô sự việc bà đã khám phá. Việc mặc khải mầu nhiệm Phục Sinh tiến triển dần dần. Bà Maria Macđala thấy tảng đá đã lăn khỏi mộ. Phản ứng tự nhiên của bà là chạy đi báo tin cho Phêrô và người môn đệ Đức Giêsu yêu quý. Bà không bước vào trong mộ và kết luận rằng xác Đức Giêsu đã bị đem ra khỏi mộ, rồi vì xúc động bà nói thêm: “người ta đã lấy mất xác Chúa rồi”.

Bà Maria chạy về phía các môn đệ, còn các môn đệ chạy ra hướng mộ đang mở trống. Người môn đệ Đức Giêsu yêu quý chạy nhanh và đến mộ trước. Nhưng ở đây ta thấy tôn ti trật tự được tôn trọng triệt để và chính thánh Phêrô vào trước và thấy khăn liệm đã được cuộn lại, xếp riêng ra một nơi. Tuy nhiên, tác giá Tin Mừng nói rằng người môn đệ kia tin khi đến lượt mình vào phía trong mộ. Ông thấy những dấu chỉ chứng tỏ không có chuyện đánh cắp xác ở đây. Tất cả mọi chuyện bên trong mộ giúp ông tin vào sự phục sinh của Đức Giêsu, đặc biệt là câu cuối cùng của bản văn. Vấn đề còn lại là đọc kỹ Thánh Kinh và hiểu Thánh Kinh nhờ đó ánh sáng niềm tin phục sinh bừng lên. Ngôi mộ mở ra chỉ là một chặng trong cuộc hành trình đức tin mà thôi.

 

 
I.            THÁCH ĐỐ CỦA BẢN THÂN

1.1    Sự Cô Đơn
Cô đơn không phải là cô độc. Cô đơn không có nghĩa là sống một mình, nhưng chính là không tìm thấy một sự hiệp thông sâu ra và trọn vẹn của người khác. Trước đây nhiều người đã lầm lẫn “đời sống chung” với “đời sống huynh đệ”. Nhiều vị đáng kính trong cộng đoàn rất gương mẫu trong đời sống chung, hiện diện trong mọi sinh hoạt chung và chu toàn mọi trách nhiệm mà cộng đoàn phân công cho mình, nhưng cách sống ấy lại chẳng thể hiện được bao nhiêu sự gặp gỡ thực sự của các thành viên với nhau; mỗi người vẫn canh cánh bên mình một thế giới riêng, nhưng ưu tư riêng mà không dễ chia sẻ và không dễ được cảm thông,

“Sự thiếu sót hay giảm sút truyền thông thườmg dẫn tới sự suy giảm tình huynh đệ. Nếu chúng ta biết ít hay không biết gì về đời sống của anh em hay chị em mình, thì họ sẽ là những người xa lạ với chúng ta, mối liên hệ sẽ trở nên vô danh”(ĐSHĐTCĐ, số 32)

Như thế, trong đời sống cộng đoàn, dù sống giữa một tập thể “đầy nguờị và đầy anh chị em ” của mình, nhưng có thể vẫn có nhiều tu sĩ cảm thấy cô đơn. Họ vẫn phải đơn độc giải quyết những khó khăn của mình, đơn độc gánh vác gánh nặng đời mình.

Người ta nói bản chất của đời người là tương quan, “sống là sống với”, nhưng sống với ở đây không phải chỉ là sống bên cạnh người khác, sống chung với người khác nhưng là sống trong người khác; nghĩa là tìm thấy một sự hiệp thông sâu xa trong những gì riêng tư nhất của đời mình, trong những hoàn cảnh cụ thể và cá biệt của bàn thân mình.

Nói cách khác, con người có nhu cầu sống với trong chiều kích ngôi vị chứ không phải trong đám đông ô hợp hoặc trong tập thể của đời sống chung. Điều đó có nghĩa là mỗi con người vẫn có nhu cầu “là mình” trong tương quan, nhu cầu bộc lộ bản thân mình để đến với người khác. Thực sự bản chất người cần một mối liên hệ có tính ngôi vị chứ không phải chỉ là những liên hệ chằng chịt nhưng lại “vô danh”. Mỗi người là mình với tất cả nét cụ thể của con người mình; mỗi người cần đến người khác, cần liên hệ và hiệp thông với ai khác trong chính ngôi vị của mình nghĩa là bao hàm tất cả những nét cụ thể của con người mình. Tôi không thể an vui khi chỉ được quan tâm như một người trẻ và được các bề trên khuyến khích giới trẻ trong cộng đoàn; không phải chỉ như một người già, và được đức thánh cha khuyến khích chứng tá của những người già. . . Thực sự, tôi cần một ai khác biết rõ “cái thằng tôi”, hiểu rõ bệnh tật và khó khăn của cái thăng tôi này và tôi cần được hiệp thông trong những góc cạnh cụ thể của ngôi vị tôi.

1.2.      Tuổi tác, bệnh tật, thất bại

“Sinh, lão, bệnh, từ” là những điều gắn liền với thân phận của con người; nghĩa là dù người ta có ngu dốt hay khôn ngoan, dù người ta có hành xử đúng đắn hay sai lầm thì cũng không vì đó mà có thể tránh được một thứ “sinh lão bệnh tử” trong cuộc đời mình…. Đó là những giới hạn căn bản của đời người chứ không phải là điều ngẫu nhiên xay ra cho một số người nào đó. Con người chỉ có thể đón nhận những giới hạn căn bản của đời người bằng những cách khác nhau chứ không thể tránh né được.

Trong đời sống gia đình nhất là gia đình Châu Á, người lớn tuổi được ở gần con cháu, được vui tuổi già cùng với hạnh phúc nhìn thấy con cháu của mình đang lớn lên và đang nên người. Cuộc sống ấy giúp cho người già có thế cảm nhận ra được, dù mơ hồ, cuộc đời của mình đang được trao tặng, đang chuyển giao cho con cháu. Khi con cháu sống hiếu thảo, người già còn cảm thấy cuộc sống của mình, những hy sinh phục vụ của mình trước đây không phi lý, nhưng có ý nghĩa.

Trong khi đó, những người lớn tuổi trong các “nhà hưu dưỡng” thì không có được niềm vui ấy, họ thường phải đơn độc chống chọi với tuổi già và bệnh tật. Mối quan tâm chính của họ chính là tuổi tác của mình, bệnh tật của mình, và họ phải chiến đấu, nhiều khi là chiến đấu vô vọng, với những thách đố ấy.

Kinh nghiệm thực tế cho thấy, bình thường, không ai có thể trợ giúp cho người già, người bệnh tốt cho bằng chính vợ chồng và chính con cái của mình. Ngay cả trong đời sống tu trì, nhiều người già bệnh vẫn phải nhờ chạy đến người thân trong gia đình và con cháu của mình nhiều hơn là nhờ cậy vào nhà dòng. Đó là một thực tế khá bi đát trong đời tu.

Thất bại cũng là điều gắn liền với thân phận con người, bởi vì người ta có thề tránh được thất bại này, đạt được thành công kia, nhưng không thể tránh được mọi thất bại trên hành trình đời người. Khi gặp thất bại, khao khát lớn nhất là được cảm thông, được chia sẻ, được liên đới. Trong đời sống gia đình, những thành công hay thất bại lớn của một con người thường là có liên hệ chặt chẽ với gia đinh của mình. Thành công hay thất bại của mình thường có nghĩa là thành công hay thất bại của cả gia đình. Chính những người trong gia đình thường là những người vui nhất với thành công của người nhà, buồn nhất với thất bại của người nhà. Do đó, khi gặp thất bại trên đường người, những người sống trong đời sống gia đình thường được an ủi hơn, vì được liên lụy, liên đới với nhau một cách mật thiết hơn.

Trong đời sống tu trì có một tình trạng chung mà con người khó thoát ra được, tình trạng “cha chung không ai khóc”. Tình trạng ấy hình như vẫn là một thách đố lớn đối với chiều kích xã hội của con người, cả trong tầm mức vĩ mô của toàn xã hội, trong xã hội chủ nghĩa chẳng hạn, cũng như trong tầm mức vi mô của đời sống thường ngày. Trong thực tế, có lẽ có không ít tu sĩ đành phải rút ra bài học tiêu cực: “làm nhiều thì khổ nhiều”

1.3. Thách đố của phái tính

Phái tính chẳng phải chỉ là một nhu cầu của phần xác trong con người, nhưng sâu xa, cũng chính là nhu cầu căn bản của toàn thể con người, nhu cầu được yêu, được kết hợp với người khác, được hiệp nhất nên một với người khác trong chính thân xác của mình.

Con người sống trong thân xác, đó là một trong những chân lý căn bản của đời sống con người. Con người mang lấy tâm tình riêng của mình cùng với thân xác và giới tinh; con người ước mơ hoàn thành cuộc đời mình cùng với thân xác và giới tính; con người thể hiện bản thân mình và muốn khẳng định mình cũng trong thân xác và giới tính. Sẽ là một tâm tình giả dối, nếu người ta yêu quí ai đó, nhưng chỉ để trong tâm mà không diễn tả ra bằng việc thăm viếng, trò chuyện, an ủi (khi có điều kiện); sẽ là ảo tưởng, nếu ai đó nghĩ rằng tôi thương con cái, nhưng lại chẳng, bao giờ thể hiện một sự quan tâm đích thực bằng chính những hành động cụ thể qua những gì động chạm đến chính thân xác của mình. Tất cả bản chất con người đều hướng tới sự gặp gỡ; và mọi thành phần trong con người đều có nhu cầu được gặp gỡ, cả trong những gì kín ẩn nhất của tâm hồn cũng như thân xác, cả những “chỗ kín” trong thân xác con người cũng đều hướng tới gặp gỡ. Do đó, thực sự con người khao khát một sự gặp gỡ trong thân xác.

Thách đố của phái tính trong đời tu không phải chỉ là những cám dỗ xác thịt, nhưng sâu xa chính là nỗi cô đơn tận trong thân xác và phái tính của mình. Đó chính thách đố của nỗi khát khao được kết hiệp với ai đó một cách sống động, cụ thể, mãnh liệt trong bản chất căn bản của một con người, một con người có thân xác và phái tính.

II. Ở LẠI TRONG TÌNH THƯƠNG CỦA THẦY

“Thầy là cây nho, anh em là cành. Ai ở lại trong Thầy và Thầy ở lại trong người ấy, thì người ấy sinh nhiều hoa trái, vì không có Thầy, anh em chẳng làm gì được.” (X. Ga 15,1-21)

2.1     “Tôi biết chiên của tôi, và chiên của tôi biết tôi (Ga 10,14)

            Trong truyền thống rất đẹp và rất căn bản của Kinh Thánh, mối liên hệ của Chúa với chúng ta và mối liên hệ của chúng ta với nhau luôn sáng lên nét “ngôi vị”. Chúng ta thấy một sự tiến triển rõ rệt của bầu khí Tân Ước so với bầu khí Cựu Ước. Trong khi Cựu Ước là giao ước khắc trên đá, thì Tân Ước lại là Giao ước giao ước khắc vào tâm khảm. Trong khi Cựu Ước là giao ước đối với dân như một tập thể, được thể hiện trong lề luật cứng nhắc, bao trùm, thì Tân Ước lại bao gồm, trong mầu nhiệm Giáo Hội, lời mời gọi gởi đến từng cá nhân
[1], để mỗi người có thế chấp nhận Thánh ý của Thiên Chúa đối với bản thân. Như thế Giao ước mới có bao hàm một yếu tố mối liên hệ của bản thân đối với Chúa Giêsu. Nếu như Thiên Chúa đã “phải” hoàn thành lịch sử cứu độ bằng một giao ước mới “Quả thật, giả như giao ước thứ nhất đã hoàn hảo rồi, thì chẳng cần phải tìm giao ước thư hai để thay thế ” [Dt 8, 7], thì yếu tố bản thân cũng phải là một yếu tố được tính đến trong đời sống đức Tin Kitô giáo.

Thật sự, tất cả những khúc mắc ở trên chỉ có thể “lý giải” được trong đời sống tâm linh, không phải chỉ như những kỷ luật của đạo đức, nhưng thực sự là mối liên hệ cá vị giữa ta với Chúa Giêsu, là sức sống của chính Chúa trong bản thân ta. Nói chung đời sống tâm linh như thế không phải là việc thêm vào, nhưng chính là “giải pháp” cho toàn bộ cuộc sống con người, dù là sống trong bât kỳ bậc sống hay hoàn cảnh nào.

Chính Chúa Giêsu, Thiên Chúa làm người, khai mở Nước Trời và mời gọi mọi người, để những người có gia đình nhưng không bao giờ có thể hoàn toàn an vui trong nếp sống gia đình, những người tu sĩ không tìm được trong “thế gian” những mối liên hệ đáp ứng được khái vọng yêu thương của mình những người bị loại trừ, những người bị bỏ rơi, những người thất bại hoàn toàn trong cả hành trình đời người. . . tất cả mọi người có thể tìm thấy một tình yêu bao la, cụ thể, trọn vẹn, cá vị từ nơi Ngôi Hai Thiên Chúa làm người.

Có thể nói một cách đơn giản, chiều kích tâm linh chính là chân trời của cuộc sống con người. Khi người ta chỉ nhìn thấy sự vật là sự vật, vấn đề tài chính chỉ là vấn đề tài chính, thì tất cả nỗ lực của ta chỉ là giải quyết được vấn đề trước mắt. Tuy nhiên, kinh nghiệm cho người ta thấy rằng không bao giờ con người có thể giải quyết trọn vẹn vấn đề chân thực của con người, vấn đề của mình cũng như vấn đề gia đình mình, tình yêu vợ chồng, tình nghĩa anh chị em. . . Nói như triết gia Gabriel Marcel, hữu thể là một huyền nhiệm chứ không phải là vấn đề, không bao giờ có thể được giải quyết rốt ráo.

Ngược lại, khi người sống trong chiều kích tâm linh, người ta sẽ nhận ra rằng giới hạn, thậm chí bế tắc của tình trạng hiệu tại vẫn được bao bọc trong một thế giới rộng hơn, vẫn có ý nghĩa trong một chiều kích sâu xa hơn: lỗi lầm cho dù nặng nề đến đâu, sự đổ vỡ của tình yêu, sự bất lực của con người, nhất là bất lực về người thân của mình. . . tất cả những bế tắc ấy vẫn có thể hàm chứa niềm hy vọng, vẫn có thể mở ra một khung trời mới, và vẫn có thể được hoá giải trong một sự thật tâm linh.

Không có chân trời, mọi hình ảnh đều trở nên mặt phẳng, không còn độ sâu và không còn diễn tả được khuôn mặt sống động của “nhân linh ư vạn vật”. Không có chiều kích tâm linh, mọi ứng xử của con người với thế giới chỉ là một bài toán cân đối giữa lợi ích của tôi và sự kiện khách quan; ứng xử một cách “hợp lý” một cách “vật lý” . . . Cách thức ấy làm cho cuộc đời chỉ còn là những thành công hay thất bại trước mắt, chúng là những sự kiện rời rạc và vụn vặt một cách nhàm chán.

“Xã hội chúng ta hiện nay là một xã hội nỗ lực truyền bá học thuyết vô thần, một xã hội rất khoái từ ngữ ‘‘khoa học” để dồn tất cả mọi thứ không khoa học vào bao “mê tín”, một xã hội mà tình trạng văn chương kém cỏi đã trở nên phổ biến trong mọi cấp giáo dục. .. Chính xã hội ấy đã tước mất khả năng tâm linh của con người để có thề đối diện với các khủng hoảng xẩy ra”2.

Chiều kích tâm linh là một nhu cầu đích thực của con người; và khi người ta hắt đầu khám phá thấy tính cách giới hạn của thực tại trần gian, thành công hay thất bại cũng chẳng là điều gì lớn lao lắm, thì người ta khao khát được bước vào một thế giới mới, trong đó, cuộc sống con người được nối liền với vĩnh cửu, với một thực tại lớn lao và sâu xa hơn. Nỗi khát vọng gặp gỡ của con người thật ra, không được gỉai quyết hoàn toàn trong những tương giao hằng ngày của con người và người sống tâm linh là người biết nhận ra cái “nghèo” của phận người để vươn mình thắng đến tuyệt đối.

2.2. Tránh cám dỗ “thành đạt” bản thân
* “Ơn gọi sống với”

Ơn gọi là một từ ngữ diễn tả nét đặc trưng của linh ddạo Kinh Thánh và nhất là linh đạo Kitô giáo. Nói một cách khái quát, đó là “linh đạo sống với”, sống là sống với ai khác, với những ngôi vị, tức là sống với con người, hoặc với các thiên thần, và nhất là sống với Thiên Chúa. Tiếng gọi không phải là một tiếng hô trông trống, một âm thanh của một chiếc máy hát hay một dòng chữ trong cuốn sách. Chỉ có tiếng gọi đích thực của một ai đó. “Ai đó” sẵn sàng mở cuộc đời của mình cho “ai khác” bước vào, mở tâm hồn của mình để đón nhận ai khác; sẵn sàng mở đôi tay để “ôm lấy” ai khác, sẵn sàng dẫn bước để đến cùng ai khác. Tiếng gọi là tiếng của một ai vừa có khả năng là chính mình, vừa có khả năng đến với ai khác, cất tiếng gọi ai khác, tức là “lôi ai khác” ra khỏi đám đông vô danh, làm cho ai khác thực sự hiện diện đối với mình, và ai khác ấy trở thành một ngôi vị có tên, có ý nghĩa; tức là có giá trị, có tầm quan trọng riêng. Một đời sống như một tiếng gọi tức là một đời sống thực sự hướng tới ai khác bằng tất cả bản thân, trong tất cả hành trình cuộc đời mình. Cũng vậy, lời đáp trả chân thực vừa là lời khẳng định bản thân của mình, vừa bày tỏ thái độ sẵn sàng để đến với ai đã gọi. Lời đáp trả cũng là một sự chân nhận tầm quan trọng của ai gọi và dám mở lòng, mở tay, dần bước.

“Sống với” là một điều hết sức bình thường của cuộc sống con người, và có nhiều người và nhiều bậc chính nhân quân tử đã không bằng lòng được. Nhiều nền văn hóa (Hy lạp chẳng hạn) và tôn giáo (Phật giáo, Khổng giáo ...) đã phải tìm ra những nẻo đường khác để có thể hoàn thiện bản thân con người. Những nẻo đường khác ấy thật là đáng trân trọng. Tuy nhiên, hệ quả luôn xẩy ra là những nẻo đường ấy lại trờ thành nẻo đường dành riêng cho những người ưu tuyển; nẻo đường mà những người nghèo, những người hèn mọn không thể nào đi được.
Trong Kitô giáo cũng không thiếu cám dỗ thành đạt, khi mà người ta cũng tưởng rằng đi sống đời sống tâm linh, để có thể nên thánh, để sống thân tình với Chúa Giêsu, dứt khoát phải đi vào con đường nội tâm, nghĩa là cần phải có một số điều kiện “cao cấp” mà cuối cùng những người nghèo, những người bé mọn cũng không thể đạt được.

Đời sống tâm linh trước hết là sống linh đạo “sống với ”, là đáp lại lời mời gọi của Chúa và sẵn sàng đi vào cuộc gặp gỡ, đối thoại với Chúa. Như một đôi tình nhân quyết định tiến tới hôn nhân, hai người vẽ ra một tương lai thật đẹp: một tình yêu lý tưởng, những đứa con ngoan ngoãn, đẹp và giỏi dang, cuộc sống hoà thuận với cha mẹ họ hàng hai bên đời sống kinh tế tốt đẹp. . . Nhưng rồi qua năm, mười năm sống đời hôn nhân, hai người càng ngày càng nhận ra cuộc sống thật khác xa với lý tưởng mà mình vẽ ra. Tuy nhiên, khi đó, hai người đã có với nhau cả một bề dày nghĩa tình, và tất cả những khó nhọc, bất toàn trong đời sống đã qua trở thành những gì quí giá cần phải trân trọng. Thậm chí khi một người mất đi hoặc đi xa, người ta lại mong ước có được người vợ chồng để cãi nhau. Cũng thế, khi sống với Chúa, người Kitô hữu cũng trải qua những sa ngã những lúc chán nản, những lúc nhạt nhẽo. . . Nhưng nhìn lại, người ta sẽ thấy rằng chính quãng thời gian sống với Chúa như thế đã thực sự là Nước Trời. Nước Trời đã có mặt ở trần gian khi có Chúa Giêsu, và Nước Trời đã có mặt trong hành trình sống đạo thăng trầm của mỗi người Kitô hữu. Sống với Chúa trong quá trình lịch sử đời mình, trung thành với đời sống ấy đã là một thành đạt của ơn cứu độ.

2.3  Đồng hành với Chúa Giêsu

Chúng ta cũng có thể khám phá những khía cạnh cụ thể và sống động của đời sống thiêng liêng, trong chiều kích đức Cậy, dựa theo tiến trình của sự gặp gỡ đời thường: Gặp gỡ là chia sẻ công việc với nhau; gặp gỡ là biết chiều ý nhau và gặp gỡ là tri ân nhau.

*   Gặp gỡ là chia sẻ công việc với nhau

Trong sứ vụ công khai, sau những lời giảng với các thính giả chung chung, từ chương năm Tin Mừng Luca, chúng ta thấy Chúa Giêsu bước vào thuyền đời của Phêrô (X. Lc 5, 1-11). Đó là một cuộc gặp gỡ đích thực vì nó là bước khởi đầu của mội cuộc gặp gỡ mỗi ngày mỗi sâu xa và trọn vẹn hơn. Từ biến cố này, Phêrô không còn thấy Chúa Giêsu là một ngôn sứ cho mọi người cách chung chung nữa. Chúa Giêsu dính dáng vào cuộc đời ông. Chúa Giêsu chia sẻ công việc với Phêrô và mời gọi ông chia sẻ sứ vụ của Ngài. Chúa Giêsu bước vào thuyền của Phêrô, và cuộc gặp gỡ này không phải chỉ là mội cuộc gặp gỡ qua đường, nhưng là một cuộc gặp gỡ thay đổi cuộc đời. Từ cuộc gặp gỡ này, Phêrô bỏ mọi sự mà theo Thầy (x. Mt 4,22), Phêrô tuyên bố “bỏ Thầy chúng con biết đên với ai” (Ga 6,68). Phêrô vui lòng chịu khổ vì Thầy (x. Cv 5,41), và cuối cùng Phêrô còn hy sinh mạng sống vì Thầy. Đó là một cuộc gặp gỡ đích thực, vì nó bắt đầu bằng việc chia sẻ công việc của nhau và mở màn cho tiến trình đi vào lịch sử thăng trầm của nhau, làm nên một lịch sử nghĩa tình.

*   Gặp gỡ và biết chiều ý nhau

Chuyện tình-nghĩa chỉ khởi đầu khi người ta biết vượt qua mức lịch sự, vượt qua tiêu chuẩn công bằng để dám chiều ý nhau. Trước lời đề nghị của Chúa Giêsu: “Chèo ra chỗ nứớc sâu mà thả lưới bắt cá ”, Phêrô có quyền từ chối, vì “Chúng tôi đã vất vả suốt đêm mà không bắt được gì cả. Phêrô có quyền từ chối chịu mất mát thêm thì giờ và công sức, nếu đây chỉ là một chuyện làm ăn, chuyện mua bán, chuyện hơn thiệt. Thế nhưng, Phêrô đã quyết định cách khác: “dựa vào Lời Thầy, tôi sẽ thả lưới ” Lý do quyết định của Phêrô không còn là chuyện thành công hay thất bại trong công việc, nhưng là khởi đầu của chuyện tình chuyện nghĩa. Dựa vào Lời Thầy, Phêrô sẵn sàng phiêu lưu. Điều quan trọng không phải chỉ là phiêu lưu làm ăn nhưng chính là bắt đầu đi vào cuộc phiêu lưu trong mối tương quan gặp gỡ:

*   Gặp gỡ là tri ân nhau

Phêrô “bắt được nhiều cá đến nỗi hầu như rách cả lưới”. Tuy nhiên, Phêrô không dừng lại ở chuyện cá mú, chuyện lời lỗ, hơn thiệt, vì sau đó ông “bò hết mọi sự mà theo Người”. Mẻ cá lạ lùng ấy làm cho hầu như lưới của ông muốn rách; nó vượt qua lãnh vực kinh tế để mờ bung vào lãnh vực tình nghĩa, “Lạy Chúa.. con là kẻ tội lỗi”

Chỉ trên bình diện tình thương, người ta mới nhận ra điều thiếu sót của mình. Chỉ khi đón nhận tình thương chân chính, người ta thấy mình mắc nợ nhau trong tình tương thân tương ái, “Ai đem hết gia tài sự nghiệp mà đổi lấy tình yêu, ắt sẽ bị người đời khinh dể”. Sách Diễm Ca (Dc 8,7) nói với chúng ta như thế. Không thể lấy bất cứ điều gì đế mua lấy tình thương, nghĩa là không một điều gì có đủ giá trị để đổi lấy tình thương; và thái độ chân chính nhất là trong tình thương luôn luôn là nhìn nhận “món nợ tương thân tương ái” như Thánh Phaolô đã nói (x. Rm 13,8). Con là kẻ tội lỗi”. Câu nói ấy cho thấy cõi lòng Phêrô đã được mở bung ra trong lãnh vực tình thương.

Từ lãnh vực của trao đổi theo lẽ công bằng đến lãnh vực nghĩa-tình bước sang giai đoạn tình nghĩa là cả một bước nhảy; rồi từ giai đoạn nghĩa-tình, bước sang giai đoạn tình-nghĩa, cho đến giai đoạn của tâm tình tri ân lại là cả một hành trình dài. Đó chính là hành trình chân chính của đời sống tâm linh Kitô giáo.

2.4  Đối thoại với Chúa Giêsu

Một khía cạnh khác trong đời sống tâm linh, đó là khía cạnh đức Mến, tạm diễn tả như là một cuộc “đối thoại” thân tình với Chúa Giêsu, với ba nét đặc trưng của đời sống con người:

*   Lãnh nhận: không như các con vật khác, mà tất cả những điều chính yếu trong bản chất của chúng đã gồm gói trong bản năng và chỉ cần một chút điều kiện tối thiểu để có thể hoàn thành cá thể của chúng, con người là sinh vật lãnh nhận; nghĩa là nếu không lãnh nhận tiếng nói, văn hoá, và tâm hồn của người khác, của xã hội, con người không sống được như một con người. Những phẩm tính làm cho con người thực sự sống xứng đáng như một con người đều phải nhờ vào xã hội con người.

Cũng thế và hơn thế nữa, con người được lãnh nhận từ Thiên Chúa ngay trong chính bản thân của mình và nơi tất cả mọi sự trong hành trình của đời sống con người. Đời sống tâm linh không phải là một điều gì thêm vào, nhưng trước tiên đó là chính hồng ân của Thiên Chúa trong bản thân của mỗi con người, sống trọn vẹn đời sống con người như một hồng ân được lãnh nhận, như một lời đáp trả với lòng tri ân, đó là điều căn bản của đời sống tâm linh.

Đó cũng là nền tảng của tâm tình khiêm tốn, vì khiêm tốn trước hết là sống đúng với thực tại của mình: “Bạn có gì mà bạn đã không nhận lãnh? Nếu đã nhận lãnh, tại sao lại vênh vang như thể đã không nhận lãnh?” (l Cr 4,7)

*   Sáng tạo: Tuy nhiên, con người không phải chỉ là một bản sao của xã hội hay của một người nào khác, mỗi con người có cứu cánh nơi chính bản thân mình, không được dùng con người như một phương tiện cho bất cứ điều gì. Mỗi con người là một “tác phẩm nghệ thuật” có tính chất tuyệt đối, nghĩa là không thể bị thay thế bằng bất cứ một điều hay một ai khác. “ ... con người, tạo vật duy nhất ở trần gian được Thiên Chúa dựng nên vì chính họ, chỉ có thể gặp lại chính bản thân mình nhờ thành thực hiến thân” (MV 24c)

Quả thật, con người lãnh nhận nhưng không lãnh nhận như một kẻ thụ động hoặc như một hệ quả hoàn toàn của hoàn cành, của xã hội. Con người lãnh nhận và có khả năng sáng tạo để tạo cho bản thân mình có một nét đẹp riêng biệt. Như thế, bất cứ điều gì có nguy cơ đúc khuôn, có nguy cơ đoàn lũ hoá, có nguy cơ đồng nhất một con người với bất cứ điều gì khác đều là phi nhân.

Thiên Chúa đã sáng tạo con người từ hư vô và con người trở thành vĩnh cửu với tất cả “cá tính” với tất cả hình hài của mình. Con người không hoà nhập với Thiên Chúa theo kiểu tan biến vào trong Ngài, nhưng như một cuộc đối thoại với những nét biến tấu bất ngờ và độc đáo.
Như thế, mối tương quan với Thiên Chúa chẳng những không huỷ diệt bản thân mỗi người nhưng phải cỏ khả năng làm cho con người, mỗi cá nhân con người được sống và được sống phong phú hơn. Chúng ta nhận thấy điều này trong nhiệm cục cứu độ: Thiên Chúa chờ đợi con người tự do và tự nguyện đến với Ngài trong một lịch sử dài đằng đẵng và Ngài vẫn tiếp tục chờ đợi một cách kiên nhẫn.

*     Trao ban: Tuy vậy, mục tiêu của cuộc sáng tạo và cứu độ của Thiên Chúa không dừng lại ở những cá thể độc đáo, rời rạc; mà tạo nên một sự hiệp nhât sâu xa của con người với nhau và với Thiên Chúa.

“Con không chỉ cầu nguyện cho những người này, nhưng còn cho những ai nhờ lời họ mà tin vào con, để tất cả nên một, như Cha ở trong con và con ở trong Cha để họ cũng ở trong chúng ta. Như vậy, thế gian sẽ tin rằng Cha đã sai con. Phần con, con đã ban cho họ vinh quang mà Cha đã ban cho con, để họ được nên một như chúng ta là một: Con ở trong họ và Cha ở trong con, để họ được hoàn toàn nên một; như vậy, thế gian sẽ nhận biết là chính Cha đã sai con và đã yêu thương họ như đã yêu thương con. (Ga 17,20-23)

Sự hiệp nhất này được thực hiện bằng việc trao ban, và trao ban trong ý nghĩa trọn vẹn chính là trao ban chính bản thân của mình. Chính vì vậy, Công đồng đã nói “con người, . . . chỉ có thể gặp lại chính bản thân mình nhờ thành thực hiến thân” {MV 24c}.

2.5. Thần Khí nghĩa tử

Khái niệm ngôi vị cho chúng ta thấy con người, giống như Thiên Chúa, là một hữu thể có lý trí, có sự do, có sự chủ động của chỉnh mình. Do đó, con người, cũng như Thiên Chúa, chỉ có thể hoàn thành vận mạng của mình khi biết sống bản thân mình như một người làm chủ lý trí và tự do của mình.

Cũng như sự hiệp nhất của Ba Ngôi, được mạc khải trong lịch sử cứu độ, có tính chẩt ngôi vị, thì việc con người hiệp nhất với Thiên Chúa cũng phải mang những tính chất của ngôi vị con người. Như thế, cách thức đi vào sự hiệp thông, hiệp nhất với Thiên Chúa, đỉnh cao của đời sống tâm linh không là gì khác hơn thái độ tự do, tự nguyện dâng tặng chính bản thân của mình, bản thân đã được lãnh nhận trong lòng tri ân và đã được sáng tạo như một ngôi vị độc đáo, đông thời cũng được đón nhận chính bản thân của Thiên Chúa. Nhu cầu sống với ngôi vị của mình là một nhu cầu đích thực và chính đáng của con người; mọi người và mỗi người đều không muốn mình chỉ là một con số, một hình bóng của ai khác, nhưng muốn bộc lộ bản thân, được đón nhận như chính mình và cũng cần đón nhận người khác như một “cá tính ” cụ thể.

Chính từ khía cạnh ngôi vị mà chúng ta có thể hiểu được ý nghĩa sự hiệp nhất trong truyền thống Kinh Thánh, và sự hiệp nhất Kitô giáo: “Hơn nữa, khi cầu nguyện với Chúa Cha: “xin cho mọi người nên một. .. như chúng ta là một” (Ga 17,21-22), Chúa Giêsu mở ra những viễn tượng mà lý trí con người không thể tự đạt tới được. Như vậy Chúa Giêsu đã nói lên một sự tương tự nào đó giữa sự kết hợp của Ba ngôi Thiên Chúa với sự kết họp của các con cái Chúa trong chân lý và đức ái” (MV24.C)

Mầu nhiệm ấy đạt đến cùng đích khi con người được trở nên con cái Thiên Chúa trong đức Giêsu Kitô.
“Quả vậy, phàm ai được Thần Khí Thiên Chúa hướng dẫn, đều là con cái Thiên Chúa. Phần anh em, anh em đã không lãnh nhận Thần Khí khiến anh em trở thành nô lệ và phải sợ sệt như xưa, nhưng là Thần Khí làm cho anh em nên nghĩa tử, nhờ đó chúng ta được kêu lên: “Áp-ba ! Cha ơi !” Chính Thần Khí chứng thực cho thần trí chúng ta rằng chúng ta là con cái Thiên Chúa. Vậy đã là con, thì cũng là thừa kế, mà được Thiên Chúa cho thừa kế, thì tức là đồng thừa kế với Đức Kitô; vì một khi cùng chịu đau khổ với Người, chúng ta sẽ cùng được hưởng vinh quang với Người. (Rm 8,14-17)

 

[1] Xc. Đặc điểm của Giao Ước Mới là mối liên hệ giữa từng cá nhân một với Thiên Chúa, Xc. Kinh thánh Tân Ước bản dịch của nhóm CGKPV, Dt 8,11 [chú thích b]. 1 Tx 4.9; 1 Ga 2,27; 5.201-..

Tác giả bài viết: Lm. Giuse Võ Viết Cường, O.P.

Nguồn tin: BBT DTT

  Ý kiến bạn đọc

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn