Dòng Thánh Tâm Huế, Việt Nam Online

Tại sao người công chính vẫn phải chịu thử thách?

Thứ ba - 04/03/2014 08:03
CSC Online - Một người đạo đức thánh thiện, nhưng bỗng nhiên người nhà bị mắc căn bệnh nan y. Trước tình huống ấy, người đạo đức này đã khẩn khoản xin Chúa giúp, nhưng Người vẫn im lặng mãi, im lặng đến nỗi khiến cho đương sự không đủ kiên nhẫn nên đã bỏ đạo Chúa. Nhân dịp Mùa Chay về, xin chia sẻ bài viết "Tại sao người công chính vẫn phải chịu thử thách?"
Tại sao người công chính vẫn phải chịu thử thách?

 
Chị thân mến! Ở đời này, con người dù muốn hay không luôn sống trong quy luật là sinh, lão, bệnh, tử. Em bé vừa thoát thai khỏi lòng mẹ đã cất tiếng khóc chào đời, như dấu hiệu nói lên cuộc đời là “bể khổ”. Cả người đang viết đây với chị cũng không thoát được đau khổ, có khác chăng là mỗi người chịu một cách khác trong những hoàn cảnh nhất định. Ơn gọi Kitô hữu không giải thoát chúng ta khỏi đau khổ, buồn sầu và sự chết. Ơn gọi Kitô hữu không miễn chuẩn cho chúng ta khỏi sự sợ hãi và những lo lắng, hoang mang. Là người Kitô hữu không có nghĩa là chúng ta sẽ tránh được mọi tai ương, thiên tai, lụt lội, bão tố
[1]. Chị thân mến, để chị có thể hiểu được những gì đang làm tâm hồn chị nặng trĩu đến mức khiến chị phải xa rời Chúa, xa rời đức tin, điều mà chị đã theo từ nhỏ, chúng ta hãy cùng nhau giải quyết các vấn nạn: “Tại sao người công chính phải chịu đau khổ?”; “Kinh thánh Cựu ước cho ta bài học gì về lòng cậy trông vào Thiên Chúa, ngay cả trong những lúc tuyệt vọng nhất?”; “Tại sao lời cầu nguyện của tôi không thành hiện thực?”; và “Đức Giê-su đã bao giờ hứa cho một ai không phải đau khổ đời này không?” Ngõ hầu, những điều này giúp chị có cái nhìn tích cực về Thiên Chúa ngay cả khi gặp khủng hoảng trong của cuộc sống.

Trước hết, Chúng ta cùng nhau đi tìm câu trả lời cho vấn nạn “Tại sao người công chính phải chịu đau khổ?” Đây là vấn nạn không chỉ đối với những người được gọi là công chính mà còn cho tất cả những ai muốn tin vào một thế giới công bình và vốn dĩ sống được. Bởi vì, cái khổ luôn đeo đuổi nơi mỗi một người. Từ trẻ già trai gái, vua chúa quan quyền đến người bần cố nông, không một ai có thể cho mình cái gọi là miễn trừ trước đau khổ được. Thế nhưng, niềm tin của chúng ta vào Thiên Chúa mới chỉ ở phần bề mặt của tảng băng trôi. Nói cách khác, chúng ta mới chỉ tin, và tạc cho mình hình ảnh về một Thiên Chúa đầy quyền năng, giàu lòng trắc ẩn và luôn quan phòng khi trời yên biển nặng, nhưng một khi gặp thử thách đau thương về thể xác, tinh thần thì đức tin của chúng ta dễ bị lung lay. Chúng ta thường cho rằng Thiên Chúa là đầu mối gây ra đau khổ, khởi điểm của tuyệt vọng, nhất là khi lời khẩn khoản nài xin của chúng ta không được Người đáp trả cách kịp thời như ta mong muốn. Chúng ta sinh nghi ngờ vào sự hiện diện của Chúa. Chính sự nghi ngờ đó làm chúng ta đau khổ hơn và rồi dần dần làm cho chúng ta mất lòng cậy trông vào Thiên Chúa quan phòng, giàu lòng xót thương.

Chị thân mến, nếu chị dành thời gian để đọc lại những câu chuyện kể về lòng trông cậy vào Thiên Chúa của Tổ phụ Ap-ra-ham, của ông thánh Gióp trong Kinh Thánh Cứu Ước, thì chị sẽ tìm được sự đồng cảm của mình nơi các nhân vật này cách đặc biệt qua nhân vật ông Gióp. Chị biết đấy, ông Gióp là một người giàu lòng kính sợ Thiên Chúa dù trong bất cứ hoàn cảnh nào; khi gia đình ông phồn thịnh, hay khi bại sản, ông vẫn một lòng chung thành với Thiên Chúa. Đặc biệt, khi ông bị vợ bỏ, con cái gặp nạn, xóm giềng hắt hủi, ông vẫn luôn luôn cậy trông vào Thiên Chúa. Nói cách khác, Gióp đã mất tất cả: không vợ, không con, không người giúp việc, không xóm giềng, không tài sản, chỉ có tấm thân đầy mụn nhọt, hôi thối. Ở trong đau khổ cùng tận ấy, ông vẫn luôn tín thác vào Thiên Chúa. Với ông, Chúa là tất cả của cuộc đời. Chính vì một niềm cậy trông bền bỉ ấy, Thiên Chúa đã ghé mắt đến ông và đã trả lại cho ông tất cả những gì ông đã bị đánh mất, và còn nhiều hơn trước kia nữa
[2]. Bài học chúng ta có được từ câu chuyện ông Gióp trong Cựu Ước là: đừng xa rời Thiên Chúa khi gặp thử thách gian nan. Ngài có lý do để hành động như thế, và nếu bạn kiên trì bám vào niềm tin của mình, Ngài sẽ đền bù cho bạn thỏa đáng với những gì mà bạn đã chịu đựng.

Thứ đến, chúng ta cùng tìm cách để trả lời cho câu hỏi của ai đó: “Tại sao lời cầu nguyện của ta không thành hiện thực”? Chúng ta có thể có nhiều cách để giải quyết vấn nạn này. Hầu hết những câu trả lời đều có vấn đề, đều dẫn đến cảm giác mặc cảm, tội lỗi, giận dữ hay tuyệt vọng. Chúng ta nên nhớ rằng Chúa quyền năng thật, yêu thương thật, Người sẽ ban những điều mà con cái của Người kêu xin và ngay cả những điều ta chưa xin, nhưng không vì thế mà chúng ta đòi Chúa phải ban cho ta những ơn ta xin vì lòng đạo đức thánh thiện hay sự hy sinh của bản thân mình; chúng ta lại càng không thể biến Thiên Chúa yêu thương, quyền năng trở thành người thủ kho, khi ta gặp khó khăn hay thử thách ta đòi buộc Chúa phải chu cấp điều ta yêu cầu, và nếu Người không đáp ứng thì chúng ta lìa xa Người. Mặt khác, Thiên Chúa là Đấng thấu suốt tâm can con người, Người biết nhu cầu của con người, và Người thấy cần phải ban ơn gì có ích lợi phần hồn, sự sống vĩnh cửu hơn và qua đó Người cũng ban ơn nâng đỡ thể xác và tình thần cho chúng ta. Điều này đã được trình bày ở phần trên với gương điển hình là ông thánh Gióp, Thiên Chúa không những ban cho ông của cải vật chất bội phần, gia đình ông được đoàn tụ, mà còn củng cố niềm tin của ông và cả gia đình ông vào Thiên Chúa quyền năng và yêu thương mỗi ngày mỗi hơn. Vậy nên chăng, chúng ta phải thay đổi cách hiểu về ý nghĩa của lời cầu nguyện và thực hành thế nào để được Thiên Chúa nhậm lời. Như thế, lời cầu nguyện và hành động chúc tụng Thiên Chúa, không trở nên vô ích, nhưng nó giúp con người có được sức mạnh thần thiêng để sống giới răn yêu thương của Chúa, và đón nhận thử thách cách dễ dàng. Chúng ta cần ý thức rằng, Thiên Chúa không cần lời chúc tụng của con người, nhưng con người cần chúc tụng Thiên Chúa, để được ơn cứu rỗi. Trong kinh tiền tụng thứ tư, Giáo hội đã viết: “Lạy Chúa là Cha chí thánh, là Thiên Chúa toàn năng hằng hữu, chúng con cảm tạ Chúa mọi nơi mọi lúc, thật là chính đáng, công bình và hữu ích cho phần rỗi chúng con. Chúa không cần chúng con ca tụng Chúa, nhưng việc chúng con cảm tạ Chúa là một hồng ân Chúa ban, bởi vì những lời ca tụng của chúng con không thêm gì cho Chúa, nhưng mang lại ơn cứu độ cho chúng con, nhờ Ðức Kitô, Chúa chúng con”. Kinh nguyện này dạy chúng ta, những người có đức tin, phải tạ ơn Chúa trong mọi hoàn cảnh, khi an vui cũng như khi gặp thử thách để qua đó chúng ta được sự nâng đỡ bằng chính sức mạnh, niềm ủi an của Thiên Chúa.

            Điều cuối cùng là: Đức Giê-su trong suốt hành trình loan báo Tin Mừng Nước Thiên Chúa, Người cũng không bao giờ đưa ra một lời hứa nào cho một ai đó được sang giàu, danh vọng, hay hạnh phúc suốt đời ngay đời này. Nhưng trái lại, ai muốn đi theo Người phải vác thập giá mình mà theo Người. Chị thân mến, khi viết những dòng này, người viết đang sống trong những ngày đỉnh cao của cả năm Phụng vụ là Tam Nhật Thánh. Tam Nhật Thánh diễn tả tròn đầy nhất về tình yêu thương của Thiên Chúa thể hiện qua cuộc khổ nạn và Phục sinh của Đức Giê-su cho mỗi người chúng ta. Khi suy gẫm mầu nhiệm Khổ nạn và Phục sinh, Giáo Hội muốn chúng ta chiêm ngắm khuôn mặt Đức Giê-su; một Đức Giê-su yêu thương nhân loại đến giọt nước cuối cùng; một Đức Giê-su luôn biết quan tâm đến người khác khi trao Mẹ Người cho Gioan và trao Gioan cho Mẹ của Người; một Đức Giê-su tha thứ cho những kẻ giết mình; một Đức Giê-su gieo niềm hy vọng cho kẻ trộm lành tỏ lòng ăn năn ngay khi mình đang đau khổ; một Đức Giê-su luôn tín thác mọi lời nói, hành động và kế hoạch của mình cho Chúa Cha: “Lạy Cha, Con phó linh hồn Con trong tay Cha”; Một Đức Giê-su dù trong đau khổ vẫn hát thánh vịnh để ca ngợi Thiên Chúa: “Lạy Chúa, lạy Chúa của Con! Sao Chúa nỡ bỏ Con”
[3]. Lạy Chúa, lạy Chúa của Con! Sao Chúa nỡ bỏ Con là lời kêu van trong Thánh Vịnh 22, được các sách Tin Mừng Thánh Matthêu và Thánh Marcô tường thuật lại là tiếng kêu mà Chúa Giêsu đã thốt ra khi đang hấp hối trên Thập Giá. Nó diễn tả tình trạng cô độc của Đấng Thiên Sai, Con Thiên Chúa, Người đang đối diện với thảm trạng bị chết, một thực tại hoàn toàn trái ngược với Chúa sự sống. Bị hầu hết những người thân yêu của Mình bỏ rơi, bị các môn đệ phản bội và chối từ, bị vây quanh bởi những kẻ nhục mạ Người, Chúa Giêsu đang bị đè bởi sức nặng của một sứ mệnh phải trải qua sỉ nhục và hủy diệt. Vì lý do đó mà Người than khóc cùng Chúa Cha, và nỗi thống khổ của Người được diễn tả qua những lời đớn đau tại những câu đầu của bài Thánh Vịnh 22. Nhưng tiếng kêu của Người không phải là một tiếng kêu tuyệt vọng, cũng không như tiếng kêu của tác giả Thánh Vịnh, là người kêu cầu trong hành trình trên đường đau khổ nhưng cuối cùng dẫn đến một viễn cảnh ngợi khen, tin cậy vào chiến thắng của Thiên Chúa[4].  Vậy, nếu Đức Giê-su là Thiên Chúa thật – Đấng đã từng làm bao phép lạ cho kẻ chết sống lại, chữa lành bệnh tật, hóa bánh ra nhiều, trừ ma quỷ,… mà còn phải chịu những khổ cực trước khi Người đi vào vinh quang, thì chúng ta - những con người tội lỗi, yếu đuối và bất toàn sao có thể đạt tới sự sống đích thực mà không có khổ đau. Trong đau khổ tột cùng, Người vẫn gắn kết với Chúa Cha đó là lòng cậy trông tuyệt đối, chỉ với những lời trăn trối cuối cùng của Đức Giê-su giúp chúng ta có được niềm an ủi mỗi khi ta gặp thử thách gian nan, vì thực sự chỉ mình Thiên Chúa mới có thể giải thoát ta, và xoa dịu những đau thương trong tâm hồn và thân xác của chúng ta. Mặt khác, Chúa Giê-su luôn mời gọi chúng ta, vác thánh giá đời mình – là những đau khổ, những mất mát đau thương, để đi theo Người; mà Thập giá là một đau khổ không ai mong muốn. Thập giá không phải là một sự kiện mau qua nhưng là một tiến trình kéo dài. Vậy phải chăng Thập giá là căn tính của những người tin vào Chúa, những người đi theo Chúa? Đức Giáo Hoàng Phan-xi-cô, vị Cha chung thân yêu của chúng ta đã chia sẻ cảm tưởng của mình trước Hồng Y đoàn sau ngày đắc cử, Ngài đã nói: “Khi ta bước đi mà không có Thập giá, khi ta xây dựng mà không có Thập giá, và khi ta tuyên xưng một Đức Ki-tô mà không có Thập giá, chúng ta không phải là môn đệ của Chúa”. Hay nói cách khác, nếu đời sống người Ki-tô hữu không có “đau khổ” và không chịu “đau khổ” thì đời sống của chúng ta không phải là đời sống của người tin vào Chúa Kitô vậy. Tuy nhiên vì biết rằng những đau khổ của con người, khi được kết hiệp với cuộc khổ nạn và cái chết của Đức Kitô, sẽ có giá trị cứu rỗi. Chính điều đó đem lại cho họ niềm hy vọng, sức mạnh và lòng can đảm để chịu đựng, ngay cả trong những tình huống tăm tối nhất mà không tuyệt vọng hay đầu hàng[5]. Thánh Phao-lô cũng khuyên nhủ các tín hữu trước đau khổ hãy cậy trông và tín thác vào Chúa, Ngài đã nói: “Những đau khổ chúng ta chịu bây giờ sánh sao được với vinh quang mà Thiên Chúa sẽ mạc khải nơi chúng ta. Chúng ta biết rằng tất cả mọi việc Chúa làm đều sinh ích cho những ai yêu mến Người”[6]. Còn thánh sử Luca đã viết: “Đức Ki-tô đã không phải chịu đau khổ để rồi mới bước vào vinh quang đó sao”[7]? Vì thế, người Kitô hữu phải học vác thánh giá trong sự kiên trì cùng với Đức Ki-tô, tin tưởng rằng lòng trung tín của Thiên Chúa sẽ không bỏ rơi họ, cũng như không để cho những đau khổ của họ ra vô ích, nhưng sẽ đưa chúng cùng với thập giá Đức Ki-tô đến vinh quang.

Với những gì đã được trình bày ở trên, chúng ta phải xác tín rằng Thiên Chúa có thể biến đổi sự dữ thành điều lành, biến đau khổ thành sự an bình trong tâm hồn, biết sự chết chóc thành sự sống vĩnh cửu. Đó chính là điều khác biệt giữa những người có đức tin và những người không có đức tin, như lời Thánh Phaolô: “Chúng ta biết rằng Thiên Chúa làm cho mọi sự nên tốt đẹp cho những ai yêu mến người”
[8]. Bởi vì đàng sau những thử thách và gian khó chúng ta có niềm hy vọng; đàng sau những đau khổ chúng ta khám phá ra niềm vui; và sau cái chết đau đớn chúng ta đạt được sự sống và hạnh phúc vĩnh cửu.[9] Thế nên, là người Ki-tô hữu, chúng ta phải biết học cách chấp nhận đau khổ, hoặc kết hợp đau khổ trong đời sống với những đau khổ và cái chết của Đức Ki-tô, để qua đó chúng ta dễ chấp nhận những điều trái nghịch với lời cầu xin của chúng ta mỗi khi gặp thử thách gian nan mà vẫn bình an. Đặt biệt, chúng ta vẫn nghiệm được rằng Thiên Chúa vẫn yêu thương ta như lời nguyện dưới đây, mà Roy Campanella- một người bị bại liệt đã ghi được trong một bệnh viện mà cô đang điều trị, lời đó như sau: “Lạy Chúa, con cầu xin ơn mạnh mẽ để thành đạt trong cuộc đời, Chúa lại làm cho con ra yếu ớt để biết vâng lời khiêm hạ. Con cầu xin có sức khoẻ để mong thực hiện những công trình lớn lao, Chúa lại cho con chịu tàn tật để chỉ làm những việc nhỏ tốt lành. Con cầu xin được giàu sang để sống sung sướng thoải mái, Chúa lại cho con nghèo nàn để học biết thế nào là khôn ngoan. Con cầu xin được có uy quyền để mọi người phải kính nể thán phục, Chúa lại cho con sự thấp hèn để con biết cần đến Chúa. Con cầu xin cho có được tất cả để tận hưởng cuộc đời, Chúa lại ban cho con cả một cuộc đời để được hưởng mọi sự. Con xin gì cũng chẳng được theo ý con muốn. Nhưng những điều đáng để con mơ ước mà con không hề biết thốt lên lời cầu xin, thì Chúa lại đã ban cho con thật dư đầy từ lâu. Lạy Chúa, hoá ra con lại là người nhận được ơn phúc Chúa ban cho nhiều hơn hết, vậy mà bấy lâu nay con đã không nhận biết sự ưu ái này. Con xin tạ ơn Chúa muôn vàn’’[10]. Với tất cả những gì đã trình bày và chia sẻ ở trên, ước gì chị sẽ tìm lại được một tâm hồn bình an, một ý chí vững mạnh trước mỗi một thử thách trong cuộc đời, và qua đó biết cậy trông vào tình yêu thương của Thiên Chúa mỗi ngày một chặt chẽ hơn.
 
 

[1] Nguyễn Đức Hòa, OP. Thần học Luân lý Tổng quát, 2013, trang 155.
[2] Kinh Thánh Cựu Ước, Truyện Gióp, Bản dịch Việt Ngữ của Nhóm Phiên Dịch Các Giờ Kinh Phụng Vụ.
 
[3] x. Mt 27:46, Mc 15:34 và x. Thánh vịnh 22
[4]  Bài giáo lý thứ mười ba về Cầu Nguyện của ĐTC Bênêđictô XVI ban hành tại Đại Sảnh Đường Phaolô VI, Thứ Tư ngày 14 tháng 9, năm 2011. ĐTC tiếp tục loạt bài giáo lý về Cầu Nguyện. Bản dịch của Phaolô Phạm Xuân Khôi.
[5] x. Lẽ Sống 438; Tử tù gặp mẹ
[6]  Rm. 8,18; 28- 30.
[7] Lc. 24, 26
[8] Rm 8 : 18, 28
[9] x. Tin Mừng cho mọi người –Chúa nhật thứ nhất Mùa Vọng.
[10] Trích lại trong Nguyễn Văn Hòa, OP. Thần học Luân lý Tổng quát, 2013, trang 156.

Tác giả bài viết: Tu sĩ Phê-rô Vũ Văn Vượng

Nguồn tin: TTTN

  Ý kiến bạn đọc

Tin mới
Bài đọc nhiều