Dòng Thánh Tâm Huế, Việt Nam Online

Khóa học đào tạo các nhà đào tạo của Liên Tu Sĩ Huế

Thứ ba - 25/08/2015 08:32
CSC - Tuổi 40 thành công nhiều trong mục vụ, giáo dục,... à Nảy sinh tham vọng. Lúc này, cần đi sâu vào nội tâm: mục đích chính của đời tu, là Đức Giêsu Kitô. Cảm thức “thuộc về”: cộng đoàn, Hội dòng, Giáo hội.


Từ sáng sớm ngày 24.8.2015, gần 250 tu sĩ nam nữ thuộc Tổng Giáo Phận Huế, cùng sáu Nữ tu Dòng Khiết Tâm Đức Mẹ ở Nha Trang, và Nữ tu Maria Vianey Huỳnh Thị Tịnh Dòng Ursuline, về tham dự khóa học đào tạo các nhà đào tạo được tổ chức tại Trung Tâm Mục Vụ TGP Huế.

Đúng 07g50, mọi tham dự viên tập trung vào Hội Trường Trung Tâm Mục Vụ cùng khởi động với vũ khúc “Bài ca phục vụ” và chuẩn bị đi vào buổi học.


Cha Antôn Huỳnh Đầy, Bề Trên Tổng Quyền Dòng Thánh Tâm, Đặc Trách Liên Tu Sĩ Huế, lên giới thiệu về sự hiện diện của Cha Giuse Phan Trọng Quang, Bề Trên Tổng Quyền Dòng Thừa Sai Đức Tin Phú Cường, Tổng Thư ký Liên Hội Bề Trên Thượng Cấp, Đặc trách vấn đề đào tạo liên tu sĩ và Thạc sĩ Bác sĩ Lan Hải, sẽ là những giảng viên trong khóa học này.



Sau lời giới thiệu của Cha Antôn, Cha Giuse Phan Trọng Quang có đôi lời với các học viên. Cha nói:

Nằm trong năm dành cho Đời sống Thánh hiến, ban Bề Trên Thượng Cấp các dòng tu đã tổ chức nhiều khóa học cho quý tu sĩ từ Nam tới Bắc. Trong chương trình chung đó, phối hợp với liên tu sĩ Huế, tổ chức khóa học cho các nhà đào tạo của các Hội Dòng. Cha giới thiệu nội dung của khóa học như sau:

1. Những giai đoạn tâm lý của đời tu, do Bác sĩ Lan Hải trình bày.

2. Đào tạo đời sống cộng đoàn, do Cha Giuse Phan Trọng Quang trình bày.

3. Phẩm chất của các nhà đào tạo, do Nữ tu Rosa Vũ Thị Loan trình bày.

4. Tâm lý đồng hành, do Cha FX. Phạm Đức Tri trình bày.

5. Đồng hành thiêng liêng, do Cha Giuse Phạm Thanh Liêm trình bày.



Đúng 08g00, tiết học đầu tiên bắt đầu do Thạc sĩ Bác sĩ Lan Hải giảng dạy với chủ đề:


CÁC GIAI ĐOẠN TÂM LÝ CỦA ĐỜI TU

Bác sĩ trình bày các giai đoạn phát triển con người theo “Thuyết 8 bước” của Erik Erikson:

Erikson phân chia cuộc sống con người theo 8 giai đoạn. Mỗi giai đoạn được đặc trưng bởi 1 dạng khủng hoảng tâm lý xã hội xuất phát từ sự xung đột giữa nhu cầu của cá nhân và yêu cầu của xã hội. Nếu được giải quyết, sẽ là tiền đề cho sự phát triển tâm lý của cá nhân trong giai đoạn tiếp theo. Nếu thất bại, sẽ gây nên những rối loạn trong những giai đoạn về sau. Ông nhấn mạnh rằng người ta chỉ có thể phát triển đầy đủ ở một giai đoạn nào đó về phương diện tình cảm, tâm lý, xã hội, nếu giai đoạn trước đó không bị gián đoạn.

Giai đoạn 1: Tin tưởng và không tin tưởng (từ 0 – 1 tuổi):

Giai đoạn 2: Tự chủ >< nghi ngờ (từ 1,5 – 3 tuổi):

Giai đoạn 3: Khả năng khởi sự công việc >< mặc cảm thiếu khả năng (3 – 6 tuổi):

Giai đoạn 4: Siêng năng >< Kém cỏi (6 – 12 tuổi):

Khép lại 4 giai đoạn đầu đời của trẻ, các học viên được nghỉ giải lao 10 phút.

Từ 9g10 -10g10: Bác sĩ tiếp tục các giai đoạn phát triển trong 8 bước.

Giai đoạn 5: Thể hiện bản thân >< sự lẫn lộn về vai trò (Vị thành niên, 12-19 tuổi):

Giai đoạn 6: Gắn bó >< Cô lập (Mới trưởng thành, 20- 40t):

Giai đoạn 7: Tạo giá trị >< Trì trệ (Trung niên, 40-65 tuổi):

Giai đoạn 8: Sự toàn vẹn, thống nhất >< Nỗi thất vọng (cao niên, 60 tuổi trở đi):

- TÓM LẠI: Theo Erikson, những phạm trù sinh hoạt và phát triển luôn có hai thái cực. Ở mỗi thời điểm phát triển, sẽ có riêng những khả năng và nhiệm vụ cần được xử lý thành thạo. Làm nhanh hơn hoặc chậm hơn tiến trình này, đều dẫn đến những bất thường trong phát triển ở tương lai. Cái tôi được xác định là điểm tựa để cá nhân có một vai trò thích hợp, giúp hội nhập vào môi trường xã hội nơi mình đang sống. Nhiều người có cái nhìn sai lệch, đã vô tình tạo cho mình một chân dung không được môi trường sống chấp nhận (nổi loạn, chướng mắt). Trong xã hội, cần có những xu hướng giải lao tâm lý. Ông thổi vào đời sống của người già một quan điểm rất quan trọng và xác định rằng: về mặt tâm lý, con người không bao giờ ngừng phát triển. Tình trạng tù đọng: trạng thái chỉ nghĩ về mình, không quan tâm đến người khác, không muốn đóng góp khả năng của mình cho xã hội, không đề cao và đặt nặng khái niệm ý nghĩa cuộc sống.



Từ 10g20 -11g10: tiết học thứ ba

Bác sĩ Lan Hải đi lại sơ lược các giai đoạn của thuyết 8 bước. Lấy lời Khổng Tử để nói về chu kỳ sống bằng 1 đoạn nổi tiếng trong Luận ngữ: “Ngô thập hữu ngũ nhi chí vu học, tam thập nhi lập, tứ thập nhi bất hoặc, ngũ thập tri thiên mệnh, lục thập nhi nhĩ thuận, thất thập nhi tòng tâm sở dục bất du củ”. (Ta tới 15, tuổi mới chuyên chú vào việc học; 30 tuổi, mới tự lập; 40 tuổi, không nghi hoặc điều gì; 50 tuổi, mới biết mệnh trời; 60 tuổi, mới có kinh nghiệm và kiến thức hoàn hảo để có thể phán đoán được ngay mọi sự lý và nhân vật mà không thấy có điều gì chướng ngại khi nghe được; 70 tuổi, mới có thể nói hay làm đúng theo ý muốn của lòng mình mà không vượt ra ngoài khuôn khổ đạo lý).

Bác sĩ cho thấy Thuyết 8 bước đã cung cấp một khung sườn cơ bản để đối chiếu với các nền văn hóa cùng thời theo tuyến ngang, và với các nền văn hóa khác thời gian (tuyến dọc). Đây là một trong những phẩm chất cần thiết của một học thuyết: Tính áp dụng đối với nhiều nền văn hóa khác nhau.

Bác sĩ tiếp tục về các thời kỳ phát triển tâm lý của con người:

1. Thời kỳ Quy ngã,

2. Thời kỳ Hướng tha đồng giới,

3. Thời kỳ Hướng tha khác giới,

4. Thời kỳ Hướng Thần linh.

Những giai đoạn phát triển của tâm lý tính dục

Vùng kích dục: phần thân thể nơi tập trung sự khoái lạc tính dục; mỗi giai đoạn, mỗi vùng.

Giai đoạn quan trọng nhất là 1-5 tuổi. Nhân cách, cá tính được hình thành trong giai đoạn này.

1. Giai đoạn bằng miệng (0-18 tháng). Hành vi khoái lạc: bú, mút, cắn.

2. Giai đoạn hậu môn (18 tháng - 3,4 tuổi). Nín và đi đại tiện.

3. Giai đoạn dương vật (3,4 - 5,6,7 tuổi): Cơ quan sinh dục, thủ dâm (phức cảm Oedip).

4. Giai đoạn tiềm tàng (5,6,7 tuổi - 12, tuổi dậy thì): Tính dục đềm, chỉ chú trọng học hành, vui chơi.

5. Giai đoạn tính dục (Từ tuổi dậy thì trở đi): Chú ý đến người khác (cùng phái hoặc khác phái): thủ dâm, giao tiếp tình dục.

6. Bác sĩ đề cập đến các mặt trái của thời hiện hiện đại:

- Văn hóa net.

- Văn hóa “quá đát”.

- Văn hóa quảng cáo.

- Văn hóa “Oshin”.

11g15: mọi người xuống tầng trệt của Hội Trường dùng cơm trưa với nhau rất thân mật và thật vui vẻ. Các Dòng đều có phòng nghỉ trưa tại Trung Tâm Mục Vụ.

14g00 - 15g00: tiết học thứ tư trong ngày do Thạc sĩ Bác sĩ Lan Hải tiếp tục với chủ đề


NHỮNG KHỦNG HOẢNG TÂM LÝ TRONG ĐỜI TU

Theo các nhà tâm lý, tuổi khủng hoảng là một giai đoạn trong đời sống con người. Nếu hiểu rõ điều này, có thể nhận ra nguyên nhân xuất hiện những khủng hoảng và vượt qua một cách nhẹ nhàng, tránh được những tổn thương.

Biểu đồ nội tiết của Nam và Nữ: Nam có 3 «đỉnh»: 30-35, 50-55, 70-75. Nữ có 1 «đỉnh» 30 và 1 cái «mô» nhỏ.

5 giai đoạn của đời người phụ nữ:

1. Thời kỳ bào thai và thai nhi (quãng đời trong bụng mẹ).

2. Thời kỳ trẻ em và tuổi học đường (từ sơ sinh đến tròn 9 tuổi)

3. Thời kỳ vị thành niên (10-19 tuổi)

4. Thời kỳ sinh sản (15 - 49 tuổi) à ở tuổi vị thành niên là đã có khả năng sinh sản.

5. Thời kỳ cao tuổi (50 tuổi trở lên):

- Trung niên - cao tuổi: 50- 74 tuổi.

- Tuổi già: 75 – 89 tuổi.

- Người sống lâu: > 90 tuổi.

Có 2 dạng khủng hoảng thường gặp:

1/ Khủng hoảng nảy sinh trong quá trình phát triển:

2/ Khủng hoảng nảy sinh do tình huống:

Hội chứng vỡ mộng

Vỡ mộng bởi những nguyên nhân:

Chưa chuẩn bị kỹ năng căn bản trước khi bước vào cuộc sống tập thể: sự chia sẻ, nhường nhịn, điều chỉnh bản thân. Chưa tự giác, tự chủ, tự lập để thích nghi với cuộc sống chung.

Một vài biểu hiện:

- Bận tâm quá mức tới sự thay đổi thể chất nhỏ.

- Ngủ quá nhiều hoặc quá ít.

- Mong muốn trở về nhà tha thiết.

- Thay đổi tâm trạng thất thường: giận dữ, khó chịu, thích ở một mình.

- Thiếu tự tin.

- Không thể giải quyết các vấn đề cơ bản. Có thể bị ảnh hưởng tới sức khỏe (đau đầu, đau bụng, cảm thấy khó lòng tập trung vào việc được). Một số dễ nổi nóng, mau nước mắt hơn.

Những điều ảnh hưởng đến cuộc sống chung

- Tính nết: nóng nảy, hiếu thắng, sỹ diện, thiếu thực tế, cái "tôi" quá lớn: kẻ thù số 1 của đời sống cộng đoàn.

- Va chạm về không gian và tự do cá nhân.

- Không làm tròn bổn phận (trực nhật, quét nhà, rửa bát, tưới cây, đổ rác, chà rửa W.C,…)

- Lười biếng, nói dối, nhiều chuyện,… Xung đột, bất hòa.

* “Sốc văn hoá” Trải qua 5 giai đoạn:

1. Giai đoạn «trăng mật»,

2. Giai đoạn «nặng nề»,

3. Giai đoạn «hòa nhập»,

4. Giai đoạn «tự chủ»,

5. Giai đoạn «độc lập».

Mỗi người trải qua 5 giai đoạn theo nhiều cách khác nhau.

+++

Mọi người được tạm nghỉ giải lao 10 phút, rồi sau đó tiếp tục vào học. Tuy chương trình dự định sẽ là 15g10 - 16g10 kết thúc, nhưng vì bài dạy quá hay, các học viên cũng say sưa tiếp thu, nên kéo dài đến 17g00. Tiết học cuối ngày này, Bác sĩ đề cập đến “Tâm lý tuổi 40”

Đối với người tu sĩ tuổi 40 thường dễ rơi vào:

- Đánh mất niềm say mê với Đấng chịu đóng đinh, khủng hoảng đức tin.

- Thiếu chiều sâu nội tâm, tìm nhẹ lánh nặng, chạy theo lợi lộc vật chất, sáng danh mình.

- Bỏ bớt giờ cầu nguyện

- Chai lì lương tâm

- Sống vô tâm, hời hợt, hay than phiền

- Quen thuộc mãi với một lối sống theo kỷ luật, nhàm chán…

+++

Bác sĩ hé mở hướng đi khác:

- Sống thực với mình hơn, tìm lại quân bình tâm lý giữa lý tưởng với thực tại.

- Can đảm đương đầu với những giằng co thay vì trấn áp chúng.

- Tránh dán nhãn, kỳ thị, khó tha thứ, phán xét, loại trừ.

- Tránh cứng nhắc, không thấy cái nhìn của mình là phiến diện. Nghe, tiếp thu nhưng không làm, sửa đổi, tạo ra nhiều rào cản trong quan hệ giữa các thế hệ.

- Đừng đánh mất ý nghĩa của đời sống thánh hiến.

Trong đời người, khủng hoảng tuổi dậy thì không trầm trọng bằng ở lứa tuổi 30-40 à có tu sĩ xin tháo lời khấn, số người không xin hồi tục nhưng sống buông xuôi, ắt là đông hơn nhiều.

Đặc điểm khủng hoảng ở tuổi 30-40: Nghiện làm việc “Workalholism”, Tranh thủ gỡ gạc, cơ hội. Kiện tụng, tố cáo/Hoang tưởng, trầm cảm, khô khan, Cảm thấy cô đơn, bị bỏ rơi, vỡ mộng, mất điểm tựa/Tự ti - tự tôn, thất bại. Chán đời, buồn tẻ, dửng dưng/Cáu kỉnh, gắt gỏng, bất cần đời/ “Máy móc”, tà tà…

Bác sĩ đề ra những hệ lụy của tuổi khủng hoảng trên và đưa ra lời khuyên của người Ý:

Tới tuổi 30-40 nên:

1. Kiếm đứa con

2. Xuất bản cuốn sách

3. Trồng cây ăn trái.

Tông thư Ta sẽ ban cho họ những mục tử như lòng ta mong ước”. (Pastores Dado Vobis, số 77), mô tả tình trạng của lứa tuổi trung niên: “Họ phải đối diện 1 vài nguy cơ, chẳng hạn lăn xả quá đáng vào hoạt động, hoặc thi hành chức vụ cách máy móc. Từ đó, họ bị cám dỗ tự phụ rằng mình có tài tháo vát hết mọi sự, làm như kinh nghiệm bản thân đã đủ rồi, chẳng cần đi tới”. Khủng khoảng xảy ra khi con người ngỡ như mình đã lên đến đỉnh rồi, vậy là bắt đầu tụt xuống.

Tuổi 30-40 không phải là tuổi liều mình bước sang ngang, mà là tuổi thực lòng theo Chúa, quay trở về với Ngài. Thánh Inhaxiô Loyola viết cuốn linh thao để ghi lại kinh nghiệm trở về với Chúa. à Trở thành cơ hội thuận tiện để tiến tới trên đường trọn lành.

Trái lại, nếu không nhận thức được các tâm trạng nội tâm đó, rất có khả năng sẽ ngã theo hoặc bị thúc đẩy đi theo những chọn lựa mình không thật sự muốn, sau đó sẽ hối tiếc “Sao lại làm vậy?

Tuổi 40 thành công nhiều trong mục vụ, giáo dục,... à Nảy sinh tham vọng. Lúc này, cần đi sâu vào nội tâm: mục đích chính của đời tu, là Đức Giêsu Kitô. Cảm thức “thuộc về”: cộng đoàn, Hội dòng, Giáo hội.

Bác sĩ trích dẫn lời Đức Hồng y Thuận: “Con đừng sợ người khác nói xấu con, vì con tốt thì người ta nói xấu – con vẫn tốt. Chỉ sợ con xấu mà cứ bắt người ta nói tốt về mình”. Và “Trong bất cứ hoàn cảnh nào, hy sinh con, đừng hy sinh người khác” cùng “Cầu nguyện là hơi thở của linh hồn”.

Khủng hoảng của tuổi xế chiều

Xã hội tân tiến chú trọng đến tuổi trẻ, hiệu năng, lợi lộc, bị ảnh hưởng những giá trị của tuổi trẻ và quên đi tuổi già là một ân sủng. Tục ngữ Phi Châu nói rằng: “Một người già chết đi, là một thư viện bị thiêu hủy”. Người cao tuổi xứng đáng được gìn giữ trong trí nhớ qua các thế hệ.

Khi tuổi cao, sức chống đỡ và sự chịu đựng của cơ thể con người trước các yếu tố và tác nhân bên ngoài cũng như bên trong, kém đi rất nhiều. Những thay đổi của cơ thể trong quá trình lão hoá: diện bề ngoài (da nhăn, tóc bạc, lưng khòm, đi đứng chậm chạp, mọi phản ứng đều chậm. Ăn uống mất ngon, thiếu hụt về dinh dưỡng...)

Mất cơ và giảm đậm độ của xương. Tế bào thần kinh bị huỷ diệt dần mà không được thay thế, lượng máu nuôi dưỡng cho não giảm, suy nghỉ chậm chạp, rối loạn, nhầm lẫn. Thuỷ tinh thể của mắt cứng đục, võng mạc kém nhạy cảm với ánh sáng, thị giác giảm khi nhìn sự vật ở gần hay trong bóng tối. Tai nghe nghễng ngãng, khó bắt được các âm thanh có tần số cao, kể cả tiếng nói bình thường. Khứu giác kém, mũi khó phân biệt và tiếp nhận được mùi của thực phẩm, hoá chất...

Sự chậm chạp về tâm lý vận động: một động tác nhưng mất nhiều thời gian, sự lẫn lộn về thời gian, rối loạn trí nhớ: khó khăn trong việc tái hiện, có thể nhớ được khi có sự gợi ý, có khi lú lẫn liên quan đến sự suy giảm ý thức và tập trung chú ý.

Về tư duy: suy nghĩ chậm chạp, liên tưởng chậm, ý tưởng tự ti, tự cho mình là thấp kém, nặng hơn có thể có hoang tưởng bị tội, bị hại, nghi bệnh,…

Về tri giác: giảm tốc độ xử lý thông tin, có sự suy giảm về tri giác giác quan (thao tác cấp cao) à nhận thông tin chậm, đôi khi bị nhiễu.

Các dạng tâm lý của tuổi già

Chín dạng tâm lý của tuổi già: Ít người chỉ thuộc 1 loại tâm lý, phần lớn thuộc loại đa dạng:

1. Loại vui vẻ, tích cực,

2. Thích nghi tốt với cuộc sống,

3. Luôn quan tâm, theo dõi đến sức khỏe mình,

4. Loại xa lánh cuộc sống,

5. Luôn mưu cầu giúp đỡ,

6. Năng động thích làm việc,

7. Loại chán chường,

8. Loại bi quan, tự trách.

9. Loại phẫn nộ, bất mãn.

CÁC CƠ CHẾ TỰ VỆ TÂM LÝ

Dồn nén

- Cơ chế bù trừ:

- Cơ chế hình thành phản ứng ngược:

- Cơ chế trí thức hoá

- Cơ chế phóng chiếu

- Cơ chế đồng nhất hóa

- Cơ chế hợp lý hóa

Binh pháp tôn tử

- Không biết mình, không biết người: Đánh trận nào thua trận ấy.

- Biết mình, không biết người/ Không biết mình, biết người: Đánh một trận, thua một trận.

- Biết mình biết người: Trăm trận trăm thắng (trăm trận không nguy) (không phải đánh trận nào cũng thắng, mà là sẽ không đánh khi biết mình thua)

Mỗi người cần:

- Tu Thân (sửa mình),

- Tu Tánh (sửa tính nết),

- Tu Hạnh (sửa cho có nhân đức),

- Tu Ngôn (sửa lời nói).

- Sống câu châm ngôn: “Mau nghe chậm nói khoan giận” (Gc 1,19)

Bác sĩ kết luận:

- Muốn thành công thì phải biết nhẫn nhịn, mà người biết nhẫn nhịn là người có chí lớn.

- Nhưng người khiêm hạ thì càng có chí lớn hơn, bởi vì nhẫn nhịn chưa chắc đã có sự yêu thương chân thành để tha thứ, nhưng khiêm hạ thì có đủ yêu thương, tha thứ và cảm thông.

- Nhà thờ Chính Toà Thánh Phaolô ở Luân Đôn treo bức họa rất nổi tiếng: Ánh Sáng Thế Gian. Chúa Giêsu đứng ngoài cánh cửa cây lá trường xuân che phủ kín mặt tường, trên cánh cửa không có ổ khóa, cũng không có quả nắm ở ngoài. Dưới bức họa viết: “Lạy Chúa, xin thứ lỗi cho con, vì con đã bắt Chúa phải đứng chờ quá lâu”.

+++



Trước khi kết thúc ngày học, chị Phó Tổng Phụ Trách Dòng Con Đức Mẹ Đi Viếng, thay mặt các học viên, nói lên lời cám ơn với Bác sĩ Lan Hải.

 
Kết thúc ngày học đầu tiên vào lúc 17g00.
 
Liên Tu Sĩ TGP Huế
 

Xin xem thêm một số hình ảnh:









  Ý kiến bạn đọc

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn