Dòng Thánh Tâm Huế, Việt Nam Online

Minh chứng sự tồn tại của Thiên Chúa qua con đường thứ tư và thứ năm trong Ngũ đạo của Thánh Tô-ma.

Thứ hai - 09/12/2013 08:42
CSC - Thánh Tôma đã đề cao vai trò của lý trí. Ngài khẳng định rằng con người có thể hiểu biết mà không cần đến ơn phù trợ trực tiếp của Thiên Chúa. Hơn nữa, trí khôn có thể khám phá nhiều điều về Thiên Chúa.
Thánh Tôma dẫn chúng ta tới việc minh chứng sự tồn tại của Thiên Chúa qua năm cách thức trong phân đoạn 3. Trong đó, hai cách thức đầu được lý luận tương tự nhau đó là dựa trên sự “chuyển dịch” và “nguyên nhân tác thành”. Cách thức thứ ba được thánh Tôma dùng dựa trên “hữu thể tất yếu”. Ngài cho rằng mọi vật có được sự tồn tại là nhờ được phát sinh vì thế có một lúc nào đó chúng là không tồn tại. Như vậy, sự hiện hữu của chúng được trao ban từ một hữu thể đã hiện hữu. Thánh Tôma đã chỉ ra rằng Thiên Chúa là “nguồn của mọi sự tốt lành thiện hảo” trong cách thức thứ tư. Cuối cùng, với cách thức thứ năm, Thiên Chúa được thánh Tôma nhìn là “Đấng quản trị vũ trụ”. Cả năm con đường trên đều là cách mà thánh Tôma dùng để trả lời cho vấn nạn: “Thiên Chúa thực hữu”. Nhưng với người viết, hai con đường có tính thuyết phục hơn cả đối với những người vô thần trong thế giới ngày nay là con đường thứ tư và thứ năm.
Thánh Tôma đã đề cao vai trò của lý trí. Ngài khẳng định rằng con người có thể hiểu biết mà không cần đến ơn phù trợ trực tiếp của Thiên Chúa. Hơn nữa, trí khôn có thể khám phá nhiều điều về Thiên Chúa. Chúng ta bắt gặp nơi hai con đường cuối là một sự hoàn hảo tột độ. Một trật tự hết sức tuyệt vời trong vũ trụ. Một trật tự tuyệt vời không thay đổi. Như vậy trong một vũ trụ khổng lồ như vậy với những trật tự như thế không thể nào có một cách tình cờ được. Ví dụ, một cây viết đẹp mắt và hữu ích còn có một ai đó làm ra, huống hồ là một vũ trụ xinh đẹp và bao la. Chắc chắn vũ trụ phải có một đấng nào tác động vào. Đấng ấy chính là Thiên Chúa. Càng lên cao, con người mới nhìn xa thấy rộng. Càng ra khỏi mặt đất, càng lên cao trên không gian, nhãn giới của chúng ta càng mở rộng. Giống như ống kính thiên văn, người Kitô hữu cũng được trang bị bằng cái nhìn từ trên cao. Nhờ cái nhìn ấy, chúng ta nhìn thấy được ý nghĩa của cuộc sống, chúng ta biết được đâu là nguồn gốc và cùng đích của chúng ta. Nhờ cái nhìn ấy, chúng ta có thể nhìn thấy dấu vết của một tình yêu luôn hiện diện và tác động trong lịch sử nhân loại và của từng người.
Mỗi sớm thức giấc, ta chiêm ngắm vũ trụ bao la vô hạn. Nhờ khoa học, chúng ta hiểu rõ các hiện tượng và sức chuyển động rất trật tự của mọi sinh vật trong đó. Với con mắt thường, ta có thể đếm được khoảng 5.000 ngôi sao lấp lánh trên bầu trời bao la. Nhưng nhờ viễn vọng, ta có thể nhìn thấy hơn 200 triệu ngôi sao
[1]. Những vì tinh tú thật to lớn ở gần trái đấy như: Uranus lớn hơn trái đất 14 lần, Neptune to hơn trái đất 17 lần, Saturne lớn hơn trái đất 93 lần, Jupiter lớn hơn trái đất 1.279 lần, đặc biệt mặt trời lớn hơn trái đất 1.300.000 lần. Sao Sirius còn to hơn mặt trời 12 lần. Những vì tinh tú này ở cách xa nhau bằng đơn vị đo thiên văn là quang niên[2]. Mỗi ngày, trái đất quay chung quanh mình một vòng, đang khi nó vẫn chạy theo quỹ đạo mặt trời với vận tốc 108 ngàn km/giờ nhưng không bao giờ sai trật, điều mà qua đó các nhà bác học có thể tính trước được ngày giờ của các hiện tượng nhật thực, nguyệt thực. Đối lại với sự vĩ đại và trật tự kì diệu của vụ trũ như vậy là sự giới hạn và bất toàn nơi con người; bởi vì bầu trời bao la như thế mà một số phi công lái máy bay thỉnh thoảng lại đụng nhau trên bầu trời! Trong khi đó, từ tạo thiên lập địa đến nay vẫn chưa có một hành tinh nào chạm nhau giữa bầu trời nhiều tinh tú như thế. Trước sự tuyệt vời của vũ trụ, nhà bác học Becquerel đã thốt lên rằng: “Chính các công cuộc khảo cứu khoa học của tôi đã đưa tôi đến chỗ nhận biết có Thiên Chúa tạo hóa và làm cho tôi có Đức Tin[3]”.
Sự vĩ đại và tuyệt vời đó không chỉ thấy nơi vũ trụ tinh tú khổng lồ nhưng còn tìm thấy trong vũ trụ nguyên tử nữa. Chúng tuyệt vời không kém. Câu chuyện về những chú ong xây dựng tổ chứa mật: con ong dù không có trí khôn, nhưng theo bản năng thiên phú, nó tự xây bình chứa hình lục lăng. Các nhà bác học đã quan sát nghiên cứu cách xây dựng tổ ong, của nhiều loại ong đã thực hiện. Tất cả đã thu được là góc tù của bình ấy cũng là 109028’ và góc nhọn cũng là 70032’. Nhà bác học Reamur miệt mài tính toán, cuối cùng tuyên bố rằng: muốn cho bình chứa được nhiều nước nhất phải làm góc tù là 109026’ và góc nhọn là 70034’. Chỉ sai biệt với bình chứa của ong làm có 2’. Thế rồi một ngày nọ xảy ra tai nạn làm hỏng một chiếc tầu. Sau khi tìm tòi lâu ngày, người ta khám phá ra rằng trong bảng tính Logarithme có một chỗ sai, và cuối cùng phải làm theo cách mà các loài ong đã làm. Vậy loài ong không có trí khôn như con người, chỉ biết làm theo bản năng thiên phú, thế mà lại làm đúng hơn cả những nhà bác học! Đứng trước sự kiện hiển nhiên ấy, mỗi người phải đặt vấn đề: Cái trật tự hoàn hảo của Thiên Chúa nói trên bởi đâu mà có nếu không bởi một trí khôn siêu vượt đã có thể sáng tạo và an bài vạn vật trong một trật tự được gọi là định luật thiên nhiên nơi vũ trụ và bản năng nơi các sinh vật. Nguyên nhân ấy chính là Thiên Chúa.
Mặt khác, khoa học cho biết sự sống chỉ có thể tồn tại và phát triển nếu hội đủ điều kiện về khí hậu, nhiệt độ, ánh sáng, thiếu một trong các điều kiện quan trọng trên thì sinh vật khó lòng mà tồn tại. Nhưng khi quan sát các hiện tượng thiên nhiên, người ta lại kết luận rằng: Có một sự xếp đặt nào đó đã ảnh hưởng nên sự bảo tồn sự sống trong vũ trụ. Thí dụ như: Tốc độ quay của trái đất, khoảng cách giữa mặt trời và trái đất cũng giúp bảo tồn sự sống, độ nghiêng của trái đất cũng giúp bảo tồn sự sống, cách giữa trái đất và mặt trăng đều giúp bảo tồn sự sống. Nếu trái đất quay chậm đi 10 lần thì ngày và đêm sẽ kéo dài thêm 10 lần. Điều này sẽ làm sinh vật chết khô hoặc bị chết cóng. Còn trái đất cách quãng xa vừa đủ để cho chúng ta được sưởi ấm. Nếu giảm đi một nửa thì mọi sinh vật sẽ chết vì lạnh. Nhưng nếu tăng thêm một nửa đến gần mặt trời hơn thì mọi vật sẽ bị chết cháy. Cũng vậy, trái đất nghiêng quá 23 độ sẽ ảnh hưởng tới sự đâm trồi nảy lộc và đơm bông kết quả của cây cối, không còn bốn mùa xuân hạ thu đông nữa. Và nếu mặt trăng gần lại trái đất 80.000 cây số thì mỗi ngày nước biển sẽ bao phủ lục địa 2 lần và cuốn trôi mọi sinh vật vào lòng đại dương. Như vậy, trước những bằng chứng hiển nhiên nói trên mọi người có trí khôn đều công nhận rằng phải có một trí khôn siêu việt và một bàn tay quyền năng nào đó đã tạo dựng nên sự sống và an bài xếp đặt những điều kiện thiên nhiên hoàn hảo tuyệt vời như vậy. Đấng trí khôn và quyền năng siêu việt ấy không ai khác chính là Thiên Chúa.
Quả thực, trước những chân lý siêu phàm mà lý trí phải cúi mình thì đức tin lại xuất hiện như một sự trợ lực phi thường: “điều gì mà chỉ một mình đức tin có thể biết nhờ mạc khải, thì một mình lý trí tự nhiên không thể nào biết được”
[4]. Không riêng gì thánh Tôma, các nhà bác học, khoa học trứ danh trên thế giới cũng phải im lặng trước những chân lý tự nhiên và siêu nhiên. Họ chỉ còn nhìn thấy và chấp nhận chúng bằng cặp mắt đức tin mà thôi. Một bản thống kê trong giới khoa học của thế kỷ 19 cho thấy, thế giới có tất cả 432 bác học thì đã có 357 vị tin vào Đức Ki-tô. Trong 75 bác học còn lại, có 44 vị không thể hiện rõ về thái độ tôn giáo[5]. Trước vũ trụ trật tự tuyệt vời có một không hai, Newton đã thốt lên: “Tôi thấy Chúa đi qua trước ống kính viễn vọng của tôi”[6]. Còn tiến sĩ Collins- một giám đốc dự án giải mã gen người đã phát biểu những lời đầy kinh ngạc xuất phát từ một tâm hồn khiêm nhường và đầy hướng thượng của ông: “Riêng với tôi, thật tuyệt vời và đáng kinh ngạc khi biết rằng lần đầu tiên chúng ta đọc được cuốn sách chỉ dẫn về chính bản thân mình, cuốn sách mà trước đó duy chỉ có Chúa mới biết đến”. Collins còn cho biết: “Với tôi, trải nghiệm của việc sắp xếp trình tự Gen người và khám phá ra bí mật đáng lưu tâm nhất trong tất cả này, vừa là một thành tựu đáng kinh ngạc của khoa học, vừa là dịp thể hiện tình yêu với Chúa”. Ông còn xác tín mạnh mẽ: “Tin vào Chúa là một sự lựa chọn hoàn toàn lý trí, và rằng, trong thực tế, các nguyên lý của đức tin lại bổ sung cho các nguyên lý của khoa học”[7].
Tóm lại, với ngũ đạo luận cách riêng là luận cứ thứ tư và thứ năm, thánh Tô-ma đã chứng minh cho con người biết rằng Thiên Chúa thực hữu. Thiên Chúa chính là sự thiện hảo tuyệt đối, Thiên Chúa chính là nguyên nhân của mọi nguyên nhân. Thiên Chúa chính là Đấng sắp đặt và an bài một trật tự trong vũ trụ thật kỳ diệu. Thiên Chúa là Đấng tác động mà không hề bị tác động. Nói cách khác, Thiên Chúa là Đấng sáng tạo vạn vật, Đấng cai quản và quan phòng vạn vật. Cũng qua ngũ đạo này, thánh Tôma khẳng định rằng con người có thể hiểu biết và khám phá nhiều điều về Thiên Chúa. Để cuối cùng, chúng ta có thể thốt nên rằng trong vũ trụ này, mọi sự dù nhỏ bé hay vĩ đại đến đâu, không có gì hiện hữu một cách tình cờ được nhưng phải do một vật hiện hữu trước đó. Sự hiện hữu đệ nhất đó không ai khác chính là Thiên Chúa. Thiên Chúa là nguồn gốc của vạn vật và là động lực thúc đẩy mọi sự hoạt động và tồn tại được.
 

[2] Quang niên hay năm ánh sáng là đơn vị đo khoảng cách được dùng chủ yếu trong thiên văn học, có giá trị bằng quãng đường mà ánh sáng vượt qua được trong chân không; 1 năm ánh sáng = 63 241 đơn vị thiên văn.
[3] Becquerel là một nhà vật lý người Pháp, từng được giải Nobel và là một trong những người phát hiện ra hiện tượng phóng xạ.
[4] Samuel Enoch Stumpf, Triết học và các luận đề, (Hà Nội: NXB Lao Động, 1994), tr. 149.
[5] Jean Deveaux, Đức Tin Của Người Công Giáo, bản dịch của L.m Duy Ân Mai, Ofm, (HCM: Uỷ Ban Đoàn Kết Công Giáo, 1992), tr. 44.
[6] Jean Deveaux, Đức Tin Của Người Công Giáo, bản dịch của L.m Duy Ân Mai, Ofm, (HCM: Uỷ Ban Đoàn Kết Công Giáo, 1992), tr. 41.
[7] Francis Collins, Ngôn ngữ của Chúa. Những bằng chứng khoa học về đức tin, ( Hà Nội: Nxb. Lao Động, 2007), tr. 12-17.


Tác giả bài viết: Phêrô Vũ Văn Vượng

Nguồn tin: TTTN

  Ý kiến bạn đọc

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn