Dòng Thánh Tâm Huế, Việt Nam Online

Tương quan giữa Bí tích Thánh Thể và Ba Lời khấn Dòng.

Thứ sáu - 13/06/2014 10:53
CSC - Trong Bữa Tiệc ly, Đức Giêsu Kitô đã thiết lập bí tích Thánh Thể để trao ban chính Mình và Máu làm của ăn, của uống nuôi chúng ta. Hơn thế nữa, Ngài còn truyền lại cho các Tông đồ: “Anh em hãy làm việc này mà tưởng nhớ đến Thầy”.


 
Dẫn nhập

Trong Bữa Tiệc ly, Đức Giêsu Kitô đã thiết lập bí tích Thánh Thể để trao ban chính Mình và Máu làm của ăn, của uống nuôi chúng ta. Hơn thế nữa, Ngài còn truyền lại cho các Tông đồ: “Anh em hãy làm việc này mà tưởng nhớ đến Thầy”. Trung thành với lệnh truyền đó, Giáo Hội không ngừng cử hành Bí tích Thánh Thể để nuôi dưỡng dân Chúa. Công Đồng Vatican II đã gọi Thánh Thể là: “Nguồn và đỉnh cao của đời sống và sứ mạng của Giáo Hội”, “là trung tâm của toàn thể đời sống tín hữu” (LG, 11; QCSLRM, 6), “là linh hồn của Phụng vụ” (LG, 11; PO,5), cũng như nguồn mạch bất tân của đời sống tâm linh, bởi vì “Thánh Thể chứa đựng chính Chúa Kitô” (PO,5)
[1]. Như thế, Thánh Thể là trung tâm điểm của Giáo Hội, là trọng tâm của đời sống tu trì[2]. Ở đây, người viết không có tham vọng triển khai hết các khía cạnh thần học Thánh Thể nêu trên, mà chỉ đi vào mối tương quan giữa Thánh Thể và Ba Lời khấn Dòng. Tông thư “Hồng ân Cứu độ” đã nêu bật giá trị cứu độ của việc tuyên giữ các lời khuyên Phúc Âm. Cũng như chính Đức Kitô đã chấp nhận vâng phục, khó nghèo, khiết tịnh để cứu chuộc nhân loại, thì những ai chấp nhận lối sống của Người cũng chia sẻ sứ vụ cứu rỗi thế giới như vậy[3]. Người tu sĩ chỉ có thể sống viễn mãn Ba Lời khuyên Phúc Âm trong sự kết hợp mật thiết với Thánh Thể.

1. Thánh Thể và lời khấn Khiết Tịnh

Ðiều 599:
“Lời khuyên Phúc Âm khiết tịnh chấp nhận vì Nước Trời, xét vì là dấu chỉ của thế giới tương lai và nguồn mạch phong nhiêu trù phú trong một con tim không chia sẻ, bao hàm nghĩa vụ tiết chế hoàn toàn trong sự độc thân”[4].
Điều luật trên đã cho chúng ta một cái nhìn rất cụ thể mục đích của lời khấn Khiết Tịnh là vì Nước Trời nhưng ta phải hiểu thế nào về “một con tim không chia sẻ”? Có phải người đi tu thì thì “không biết” yêu hay không còn khả năng yêu một thụ tạo nào nữa?
Thiết tưởng chỉ nhìn vào khía cạnh này thì lời khấn khiết tịnh có vẻ hạn hẹp và ích kỷ nữa. Ta chỉ có thể hiểu được sự phong nhiêu của đời sống khiết tịnh trong Bí tích Tình yêu - Bí tích Thánh Thể. Vì yêu thương nhân loại, Chúa Cha đã ban chính Con Một yêu dấu của Mình nhập thể làm người để cứu độ và thông ban tình yêu cho con người. Tình yêu ấy được “trả giá” bằng chính mạng sống của mình: “Không có mối tình nào lớn lao cho bằng mối tình của kẻ chết vì người mình yêu” (Ga 15,13). Bí tích Thánh Thể được thiết lập cùng với lời trăn trối: "Anh em hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương anh em" (Ga, 15,12). Như thế, bí tích Thánh Thể là một bảo chứng tình yêu mà chính Chúa Giêsu Kitô đã thiết lập để trao ban chính Mình và Máu làm của ăn, của uống cho người mình yêu. Khi trao ban chính Mình và Máu làm của ăn, Ngài đã muốn trở nên máu thịt trong người mình yêu. Còn đối với người “ăn” máu thịt ấy không những trở nên một với người ban tặng mà còn được tham dự vào sự sống vĩnh cữu.
Như thế khi sống khiết tịnh, người tu sĩ khước từ tình yêu vợ chồng để bước vào tương quan với Đức Kitô bằng một con tim trọn vẹn. Tình yêu ấy không dành riêng cho một tạo vật nào nhưng dành trọn cho Chúa Giêsu Thánh Thể. Nơi Thánh Thể, tình yêu nhỏ bé của người tu sĩ được đổ đầy tình yêu vô biên Chúa Giêsu Thánh Thể. Để từ đó người tu sĩ có thể mang tình yêu Chúa Giêsu Thánh Thể cho nhân loại, đặc biệt cho người nghèo, ngời nhỏ bé, người bị gạt ra bên lề xã hội một cách quảng đại hơn. Theo gương Đức Kitô, người tu sĩ sống độc thân vì Nước Trời vì muốn thực hiện kế hoạch tình yêu đại đồng ấy.

2. Thánh Thể và lời khấn Khó Nghèo


Ðiều 600: Lời khuyên Phúc Âm khó nghèo để bắt chước Ðức Kitô, Ðấng tuy giàu sang nhưng đã trở nên nghèo vì chúng ta, ngoài một nếp sống nghèo cả về thực chất lẫn tinh thần, cần cù và thanh đạm, không dính bén tài sản thế tục, còn mang kèm theo sự lệ thuộc và hạn chế trong việc xử dụng và định đoạt tài sản, chiếu theo quy tắc của luật riêng của từng hội dòng[5].
Chúng ta đang sống giữa một thế giới thiên về vật chất. Người ta tận dụng mọi khả năng, phương tiện để làm ra của cải vật chất để giúp ích cho con người. Vậy tại sao người tu sĩ lại đi khấn khó nghèo? Có phải Giáo Hội cổ súy cho sự nghèo? Để hiểu được ý nghĩa sâu xa và cao cả của lời khấn khó nghèo, ta phải đặt nó vào trong tương quan với bí tích Thánh Thể.
Trước hết, chúng ta hãy cố hiểu ý nghĩa của từ “tinh thần nghèo khó”. Khi Con Thiên Chúa làm người, Ngài chọn cho mình con đường nghèo khó và tự hủy ra không. Như Thánh Phaolô nói trong thư gửi cho các tín hữu Philipphê: “Ðức Giêsu Kitô vốn dĩ là Thiên Chúa mà không nghĩ phải nhất quyết duy trì địa vị ngang hàng với Thiên Chúa, nhưng đã hoàn toàn trút bỏ vinh quang mặc lấy thân nô lệ, trở nên giống phàm nhân sống như người trần thế. (Pl 2:5-7). Đây là mầu nhiệm mà chúng ta chiêm ngắm nơi hang đá khi chúng ta thấy Con Thiên Chúa nằm trong máng cỏ, và sau đó là trên thánh giá, nơi sự tự hủy của Người đạt đến đỉnh cao nhất. Trong bí tích Thánh Thể, Đức Giêsu Kitô đã trở thành tấm bánh bẻ ra vì anh em. Như hạt giống gieo vào lòng đất và chịu mục nát đi để sinh nhiều hoa trái khác
[6]. Đức Giêsu là Thiên chúa trút bỏ hết mọi vinh quang. Ở đây chúng ta thấy chọn lựa trở nên nghèo hèn của Đức Giêsu: Ngài giàu sang nhưng đã trở nên nghèo để làm cho chúng ta trở nên giàu có nhờ cái nghèo của Người[7].
Như thế khi sống khấn khó nghèo, người tu sĩ không bám vứu vào của cải trần gian như là cứu cánh nhưng người tu sĩ dâng hiến trọn vẹn của cải vật chất, tinh thần và ngay cả con người mình cho Thiên Chúa. Trong bí tích Thánh Thể, Chúa Giêsu Kitô đã trở nên nghèo thực sự khi chấp nhận là tấm bánh bẻ ra làm của ăn cho muôn người được sống và sống dồi dào
[8]. Lời khấn khó nghèo giúp người tu sĩ bước theo con đường Thầy mình đã đi qua và hãy đặt mình trước sự hiện diện của Chúa Giêsu Thánh Thể. Nơi Thánh Thể, người tu sĩ không còn bám vứu vào của cải trần thể nhưng hoàn toàn tự do bước theo Chúa Giêsu trong tinh thái độ tự hạ, siêu thoát. Ngài không chiếm hữu gì, “không có chỗ tựa đầu”[9]. Như vậy, lời khấn khó nghèo giúp người tu sĩ trở nên trống rỗng để tháp nhập vào sự nghèo khó của Chúa Giêsu Thánh Thể để họ dẫn thân vào việc đem tin mừng tình yêu của Chúa đến cho nhân loại, đặc biệt là những người nghèo.

3. Thánh Thể và Lời Khấn Vâng Phục

Ðiều 601:
Lời khuyên Phúc Âm vâng lời, được chấp nhận trong tinh thần tin yêu để theo Ðức Kitô vâng lời cho đến chết, bó buộc ý chí phải tùng phục các Bề Trên hợp pháp, khi họ thay mặt Thiên Chúa truyền khiến hợp theo hiến pháp riêng[10].
Trong một xã hội, người ta đang đấu tranh đòi tự do và nhân quyền thế mà người tư sĩ lại đi khấn vâng lời. Điều này xem ra có vẻ nghịch lý chăng? Vì sao các tu sĩ lại tước bỏ đi quyền căn bản của chính mình, điều này chỉ có thể hiểu được khi đặt lời khấn này vào trong tương quan với Chúa Giêsu Thánh Thể.
Kinh thánh cho chúng ta thấy, cả cuộc đời Đức Giêsu, Ngài không làm gì khác ngoài vâng phục thánh ý Chúa Cha. Tâm tình vâng phục tuyệt đối này đã thúc đẩy Đức Giêsu thi hành những điều Người không muốn làm: "Cha ơi, nếu được, xin cho chén này rời khỏi con, nhưng xin đừng theo ý con, mà xin theo ý Cha"
[11]. Thánh Phaolô đã tóm tắt lại cuộc đời dương thế của Đức Kitô qua câu nói: “Người đã vâng lời cho đến chết, chết trên thập giá”[12]. Sự vâng phục ấy được thể hiện đặc biệt trong bí tích Thánh Thể. Ngài là Thiên Chúa, là Đấng Cứu độ mà lại ẩn mình trong tấm bánh nhỏ bé. Trong bàn tay linh mục, Ngài là Tấm bánh được bẻ ra cho nhân loại đang đói khổ, đang khát khao lương thực thần linh. Chính nhờ sự vâng phục Chúa Cha, Đức Kitô đã mang lại ơn cứu độ cho nhân loại.
Cũng như hai lời khấn khiết tịnh và khó nghèo, lời khấn vâng lời mời gọi người tu sĩ đi theo và bắt chước Đức Kitô. Ngài đã vâng phục vì thảo hiếu với Chúa Cha, vâng phục vì phục vụ Nước Trời. Để lời khấn vâng lời có ý nghĩa trọn hảo, người tu sĩ hãy đặt tự do, ý chí và ước muốn của mình nơi bí tích Thánh Thể. Nơi Thánh Thể, người tu sĩ không ngừng tìm thấy sự vâng phục của Chúa Giêsu Kitô: từ bỏ, tự hủy để rồi ẩn mình trong một tấm bánh nhỏ bé ở lại với chúng ta. Ngài tự nguyện hiễn thân làm của ăn, của uống và đến ngự trong linh hồn mỗi người chúng ta, không phân biệt địa vị, giai cấp, giàu nghèo. Theo gương Chúa Giêsu, người tu sĩ không còn sống theo ý riêng của mình nhưng hoàn toàn theo ý Chúa qua các vị bề trên. Cũng như Đức Giêsu đến không phải làm theo ý mình nhưng lam theo ý Chúa Cha. Cũng thế, người tu sĩ từ bỏ ý riêng, hoàn toàn phó thác trong tay Chúa để Ngài sử dụng ta như khí cụ phục vụ và đem tình yêu cứu độ cho anh em đồng loại.

Tạm kết

 Quả thực trong một xã hội, người ta đang coi thường khiết tịnh, chạy theo của cải vật chất và thượng tôn chủ nghĩa cá nhân thì người tu sĩ khấn ba lời khấn đang đi ngược dòng với xã hội. Nếu chỉ nhìn bằng con mắt nhà kinh tế, chính trị và nhà nhân quyền thì chúng ta không thể chấp nhận được ba lời khấn. Ba lời khấn dòng: Khiết tịnh, khó nghèo và vâng phục chỉ có ý nghĩa thực sự khi đặt nó trong tương giao mật thiết với cuộc đời Đức Giêsu Kitô trong bí tích Thánh Thể. Chính Đức Giêsu đã noi gương cho chúng ta khi Ngài nhập thể làm Người là vì quá yêu nhân loại. Ngài sống khó nghèo để đến chia sẻ phận người với chúng ta. Ngài đã vâng phục Chúa Cha trong mọi sự đến chết trên thập giá để cứu chuộc con người tội lỗi. Ba chiều kích đó được thể hiện trọn vẹn trong bí tích Thánh Thể. Nên mỗi khi cử hành bí tích Thánh Thể cũng là lúc người tu sĩ sáp nhập đời sống của mình vào cuộc đời của Chúa Giêsu Kitô. Người tu sĩ chỉ có thể sống và thực hành ba lời khuyên Phúc Âm qua việc siêng năng tham dự thánh lễ và rước Mình Máu Chúa Kitô. Với Chúa Kitô, trong Chúa Kitô, người tu sĩ hân hoan lên đường đem Tin Mừng tình thương, Tin Mừng cứu độ cho muôn dân, đặc biệt nơi những người nghèo, người bị bỏ rơi bên nề xã hội.
 

[1] Xc. Vũ Chí Hỷ, Giáo trình Thần Học Thánh Thể, tr. 4-5.
[2] Xc. PV. 10.
[3] Xc. Phan Tấn Thành, Giải Thích Giáo Luật, tập III, tr. 89.
[4] GL. Đ. 599.
[5] Gl. đ. 600.
[6] Xc. Ga 12,24.
[7] Xc. 1Cr 8,9.
[8] Xc. Ga 10,10.
[9] Xc. Lc 9, 57 - 58.
[10] Gl. đ. 601.
[11] Mt 26:39.
[12] Pl. 2,8.

Tác giả bài viết: Tu sĩ Jos. Vũ văn Tuấn CSC

Nguồn tin: DTT

  Ý kiến bạn đọc