Dòng Thánh Tâm Huế, Việt Nam Online

Phân biệt các Hội Dòng trong Giáo Hội

Chủ nhật - 08/12/2013 20:20
CSC - Ở Việt Nam hiện nay đang có rất nhiều người đáp trả lại lời mời gọi sống đời dâng hiến cho Thiên Chúa ở trong các Hội Dòng trong Giáo Hội. Do đó, Chúng ta cùng nhau tìm hiểu để phân biệt sự khác nhau giữa các Dòng Tu trong Giáo Hội.


Khi nói về đời sống thánh hiến, ai ai cũng biết trong Giáo hội có nhiều tổ chức, nhiều hình thức tu trì vì có nhiều vị sáng lập nhận được đặc sủng của Chúa Thánh Thần. Nhưng theo Bộ Giáo Luật 1983, chúng ta thấy có ba loại tổ chức khác nhau về đời tu : “Dòng tu” (Institutum religiosum), “Tu hội đời” (Institum saeculare), và “Tu đoàn Tông đồ”(Societas vitae apostolicae). Trải qua dòng lịch sử, nếu chỉ dựa trên từ ngữ để phân biệt thì quả thật gặp khó khăn, song nếu dựa trên những khái niệm mà nhà lập pháp đặt ra thì chúng ta có thể phân biệt : Dòng tu – Tu hội đời – Tu đoàn tông đồ; Dòng Tòa Thánh – Dòng Giáo phận; Dòng Giáo sĩ – Dòng Giáo dân; Dòng Chiêm niệm – Dòng Tông Đồ.
 
I – Dòng Tu, Tu Đoàn Tông Đồ và Tu Hội Đời
1.      Dòng Tu : có 3 đặc điểm chính sau :
a.       Họ tuyên giữ ba lời khuyên phúc âm với lời khấn công.
b.      Đời sống chung
c.       Xa cách đời.
 
Giáo Luật Ðiều 607: 
§2. Hội Dòng là một xã hội, trong đó các thành viên tuyên giữ các lời khấn công vĩnh viễn hay tạm thời, nhưng họ phải tuyên khấn lại khi mãn hạn, tùy theo luật riêng, và chung sống đời huynh đệ.
§3. Việc các tu sĩ phải làm chứng công khai cho Ðức Kitô và cho Giáo Hội bao hàm sự xa cách thế gian, là điều hợp với đặc tính và mục tiêu của mỗi dòng.
 
Và khi nói về “khấn công”, GL 1192 §1 “Lời khấn được gọi là Công nếu được Bề Trên hợp pháp chấn nhận, nhân danh Giáo Hội, nếu không thì lời khấn là Tư”. Thực ra, tiêu chuẩn để phân biệt không có chi rõ ràng. Lời khấn được gọi là “công” không phải vì diễn ra cách công khai, nhưng vì được Giáo hội nhìn nhận như vậy. Trên thực tế, chỉ có các lời khấn trong  Dòng Tu mới được nhìn nhận là “công”.
Như thế, chúng ta có thể thấy nhiều tổ chức tu trì thuộc vào trường hợp này: Dòng Đa Minh, Dòng Tên, Dòng Thánh Thể, Dòng Thánh Tâm – Huế, Dòng Mến Thánh Giá, Dòng Đức Bà Truyền Giáo, Dòng Thánh Phaolo, …
 
2.      Tu Hội Đời:
a.       Không có lời khấn công mà chỉ có mối dây ràng buộc thánh.
b.      Không có đời sống chung
c.       Sống giữa đời. Đây là điểm làm nên bản chất của Tu Hội Đời.
Thật vậy, GL. Ðiều 710: “Tu hội đời là một tu hội thánh hiến, trong đó các Kito hữu sống giữa thế giới cố gắng vươn tới sự hoàn hảo của đức ái và góp phần vào việc thánh hóa thế giới một cách đặc biệt từ bên trong”.
Ví dụ : Tu hội Tôi Tá Thánh Tâm, Tu hội Thiên Phúc, Tu hội Nữ Tỳ Chúa Kito, Tu hội Nô tỳ Thiên Chúa, …
 
3.   Tu Đoàn Tông Đồ:
a.     Không có lời khấn công, nhưng chỉ có một mối dây ràng buộc nào đó.
b.     Đời sống chung. Điểm này mang họ gần các Dòng Tu và khác với Tu Hội Đời.
 
Ðiều 731: 
§1. Bên cạnh các hội dòng thánh hiến là các tu đoàn tông đồ, mà các thành viên theo đuổi mục đích tông đồ riêng của tu đoàn, dù không có lời khấn dòng, và sống chung như anh chị em theo một lối sống riêng, để vươn tới sự hoàn hảo của đức ái qua việc tuân giữ hiến pháp.
§2. Trong số các tu đoàn ấy, có những tu đoàn mà các thành viên đảm nhận các lời khuyên Phúc Âm bằng một mối ràng buộc nào đó do hiến pháp qui định.
 
Ví dụ : Tu đoàn Giáo sĩ Nhà Chúa, Tu đoàn Truyền giáo Thánh Vinh sơn, Tu đoàn Nữ tử Bác ái Vinh sơn, Tu đoàn Lao động Truyền giáo, …
 
II – Dòng Tòa Thánh và Dòng Giáo Phận
Giáo Luật Ðiều 589 “Một hội dòng thánh hiến được coi là thuộc luật giáo hoàng nếu đã được Tông Toà thành lập hay phê chuẩn bằng một sắc lệnh chính thức; nhưng một hội dòng thánh hiến được coi là thuộc luật giáo phận, nếu đã được Giám Mục giáo phận thành lập mà không có sắc lệnh phê chuẩn của Tông Toà”.
1.      Dòng Tòa Thánh : (Institutum iuris pontificii : Dòng thuộc quyền Giáo Hoàng, theo luật Giáo Hoàng).
Ví dụ : Dòng Chúa Cứu Thế, Dòng Đa Minh, Dòng Thánh Thể, Dòng Tên, Dòng Đức Bà, Dòng Phanxico, …
2.      Dòng Giáo Phận : (Institutum iuris dioecesani : Dòng thuộc quyền Giáo phận, theo luật Giáo phận).
Ví dụ : Dòng Thánh Tâm – Huế, Dòng Thánh Gia VN, Dòng Kito Vua, Dòng Mến Thánh Giá, Dòng Mân Côi, …
 
Dưới khía cạnh pháp lý, sự phân biệt giữa Dòng Toà Thánh và Dòng Giáo phận có hậu quả quan trọng tới mối liên hệ với giáo quyền. Theo GL điều 593, Dòng Toà Thánh thì tuỳ thuộc Toà Thánh trực tiếp trong vấn đề cai quản nội bộ và kỷ luật; trong khi đó, theo GL 594, Dòng Giáo phận được uỷ thác đặc biệt cho Giám mục Giáo phận. Quả thật, lối hành văn của  hai điều luật 593 và 594 đã cho thấy sự khác biệt. Khi nói đến Dòng Toà Thánh, điều 593 nói “ trong việc cai quản nội bộ và kỷ luật, các Dòng này tuỳ thuộc trực tiếp và chuyên hữu vào Toà Thánh. Nhưng khi nói về Dòng Giáo phận, điều 594 không dùng những từ ngữ tương tự, lý do Dòng Giáo phận không chỉ lệ thuộc Giám mục mà thôi, nhưng còn lệ thuộc Toà Thánh, kể cả trong phạm vi tổ chức nội bộ và kỷ luật.
Ðiều 593Các hội dòng thuộc luật giáo hoàng tùy thuộc trực tiếp và chỉ tuỳ thuộc vào quyền Tông Toà trong việc lãnh đạo nội bộ và kỷ luật, miễn là vẫn giữ nguyên những qui định của điều 586.
Ðiều 594: Các hội dòng thuộc luật giáo phận được đặt dưới sự chăm sóc đặc biệt của Giám Mục giáo phận, miễn là vẫn giữ nguyên những qui định của điều 586.
Ðiều 586: 
§1. Mỗi Hội Dòng được thừa nhận có quyền tự trị chính đáng trong sinh hoạt,  nhất là trong việc lãnh đạo, nhờ đó Hội Dòng có một kỷ luật riêng trong Giáo hội và có thể bảo toàn nguyên vẹn gia sản của mình được nói đến ở điều 587.
§2. Việc duy trì và bảo vệ quyền tự trị ấy thuộc về các Đấng Bản Quyền địa phương.
 
III – Dòng Giáo Sĩ và Dòng Giáo Dân
Giáo Luật Ðiều 588 : 
§1. Bậc sống thánh hiến, tự bản chất, không thuộc hàng giáo sĩ, cũng chẳng thuộc hàng giáo dân.
§2. Hội Dòng giáo sĩ là hội dòng được các giáo sĩ lãnh đạo, do mục đích hoặc ý định của vị sáng lập hoặc do một truyền thống chính đáng, đảm nhận việc thi hành chức thánh và được quyền bính Giáo Hội công nhận như vậy.
§3. Hội Dòng giáo dân là hội dòng được nhà chức trách Giáo hội công nhận như vậy, do bản chất, do đặc tính và do mục đích của mình, hội dòng có một nhiệm vụ riêng được vị sáng lập hoặc được truyền thống chính đáng xác định, và nhiệm vụ này không bao hàm việc thi hành chức thánh.
 
Như vậy, dựa theo bản văn, các tiêu chuẩn để giúp phân biệt :
-         Bản chất và mục tiêu của hội dòng,
-         Ý định của vị Sáng lập,
-         Truyền thống hợp lệ
-         Sự nhìn nhận của nhà chức trách Giáo hội
 
Chúng ta cũng cần thấy rằng, trong một Dòng Giáo sĩ, không phải tất cả các tu sĩ đều là giáo sĩ, nhưng cũng có cả các Trợ sĩ. Trong khi đó, với các Dòng giáo dân, một số tu sĩ có thể được đề cử lãnh chức linh mục để lo việc phụng vụ trong cộng đoàn hay làm tuyên uý trong các cơ sở của Dòng
[1].
Về khía cạnh pháp lý, (1) trong Dòng Giáo sĩ, bề trên phải là một giáo sĩ, tức Phó tế có thể là Bề trên Tổng quyền; (2) trong Dòng Giáo sĩ thuộc luật Toà Thánh, các Bề trên được hưởng quyền cai quản của Giáo hội, cách riêng các Bề trên cao cấp của Dòng được gọi là Bản Quyền
[2], nên có những quyền hạn tương đương các Giám mục Giáo phận đối với thuộc cấp của mình.
 
IV – Dòng Chiêm Niệm – Dòng Tông Đồ
Hiến Chế về Giáo hội Lumen Gentium, số 46, đã trình bày về sự cao cả của  đời sống thánh hiến. “Các tu sĩ phải đem hết tâm lực làm cho Giáo hội, qua con người của họ, thực sự biểu dương Chúa Kitô ngày một hoàn hảo hơn cho các tín hữu cũng như các lương dân: biểu dương Chúa Kitô đang cầu nguyện trên núi, hoặc đang loan báo Nước Thiên Chúa cho dân chúng, hoặc chữa lành những kẻ đau yếu tàn tật, hay hoán cải các tội nhân trở lại đời sống phong phú, hoặc đang chúc phúc cho trẻ em, ban ơn lành cho mọi người, và trong mọi sự luôn vâng phục thánh ý Chúa Cha, Ðấng đã sai Người đến”. Sau đó, Bộ Giáo Luật điều 577 đã trình bày 04 loại Dòng, xét theo mục tiêu mà mỗi Dòng cố gắng hoạ lại từ cuộc đời Đức Ki-tô.

1.      Đức Ki-tô cầu nguyện. Đây là mục tiêu của những Dòng “thuần tuý chiêm niệm” được GL 674 nhắc đến.
Giáo Luật Ðiều 674 : “Các dòng sống đời thuần túy chiêm niệm luôn luôn giữ một phần cao trọng trong nhiệm thể của Ðức Kitô; bởi vì họ dâng lên Thiên Chúa hy lễ ngợi khen tuyệt vời; họ trang điểm dân Chúa với những hoa trái trù phú của sự thánh thiện; họ thúc đẩy dân Chúa bằng gương sáng và làm nó phát triển nhờ sự phong nhiêu tông đồ kín nhiệm của mình. Vì lẽ ấy, dù nhu cầu hoạt động tông đồ thật là khẩn cấp, nhưng các phần tử của các dòng ấy không thể được gọi hoạt động hợp tác vào các công việc mục vụ khác”.
Chúng ta có thể thấy : Đan Viện Biển Đức, Đan viện Cat-minh, Đan viện Xito, …. thuộc về Dòng Chiêm Niệm.
 
2.      Đức Ki-tô loan báo Nước Trời, những Dòng phục vụ cho Lời Chúa (giảng và dạy)
3.      Đức Ki-tô thi ân cho nhân loại : những Dòng chuyên về công tác bác ái xã hội, bệnh viện,
4.      Đức Ki-tô sống giữa đời : áp dụng cách riêng cho các tu hội đời.
 
Các tổ chức tu trì số 2,3 và 4 được gọi là dòng hoạt động(tu đoàn, và tu hội). Giáo luật nói về đặc tính này trong số 675 như sau :
§1. Trong những hội dòng chuyên hoạt động tông đồ, việc tông đồ thuộc về chính bản tính của những hội dòng ấy. Vì vậy, toàn thể đời sống của các thành viên phải được thấm nhuần tinh thần tông đồ, và tinh thần tu trì phải thúc đẩy toàn thể hoạt động tông đồ.
§2. Hoạt động tông đồ phải luôn luôn phải bắt nguồn từ việc kết hợp mật thiết với Thiên Chúa, đồng thời phải củng cố và hun đúc việc kết hợp ấy.
§3. Hoạt động tông đồ phải được thi hành nhân danh và thừa lệnh của Giáo Hội, cũng như phải được thực hiện trong sự thông hiệp với Giáo Hội.
 
 
 
                                                                                        
 
 
Nguồn tham khảo :
1.     Vatican II. Hiến Chế về Giáo hội, Lumen Gentium.
2.     Vaticanô II. Sắc Lệnh về Canh Tân Thích Nghi Ðời Sống Dòng Tu, Perfectae Caritatis.
3.     Bộ Giáo Luật 1983. Hà nội : Tôn Giáo, 2006.
4.     Phan Tấn Thành. Giải Thích Giáo Luật, Tập IIIHội Dòng Tận Hiến và Tu Đoàn Tông Đồ, 2012.
 

[1] X. Vatican II, Sắc lệnh Đức Ái trọn hảo, số 10.
[2] GL 134§1.



 

Tác giả bài viết: Đaminh Qủa CSC

Nguồn tin: TTTN

  Ý kiến bạn đọc

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn