Dòng Thánh Tâm Huế, Việt Nam Online

Thiên Chúa siêu nhiên hóa con người ngay từ khi tạo dựng con người

Thứ hai - 24/02/2014 09:21
CSC - Con người ban đầu phạm tội và rơi vào tình trạng mất ơn nghĩa với Thiên Chúa, mất sự hòa hợp với nhau và mất sự hòa hợp với các tạo vật khác nữa. Con người phải sống trong đau khổ và phải chết. Nhưng có lẽ đau khổ nhất là con người mất tình nghĩa với Chúa. Nhưng Thiên Chúa vẫn không bỏ con người trong tình trạng tội lỗi mà Ngài đã sai chính Con Một của Ngài là Đức Giêsu đến để cứu chuộc con người.
Chứng minh việc Thiên Chúa siêu nhiên hóa con người ngay từ khi tạo dựng con người.
 
 
Dẫn nhập
Mở đầu sách Sáng thế, Thiên Chúa dựng nên trời đất, nghĩa là mọi vật trên trời, dưới đất và trong vũ trụ từ trong cái hỗn mang, hoang dại trống rỗng, lộn xộn, tiêu cực trái ngược với vũ trụ thứ tự và tốt đẹp ta thấy. Trên vùng hỗn mang đó, thần khí (ruah: một chữ cũng có nghĩa là gió, là hơi thở) chỉ sức mạnh của Thiên Chúa. Trên vùng hỗn mang đó, thần khí (ruah: một chữ cũng có nghĩa là gió, là hơi thở) chỉ sức mạnh của Thiên Chúa. Thiên Chúa phán một lời thì làm nên mọi tinh tú, sinh vật trong vu trụ. Trước hết Thiên Chúa tách rời các yếu tố còn lẫn lộn: Ánh sáng với bóng tối, nước ở trên vòm trời và nước bên dưới, biển và đất liền. Sau khi phân định ranh giới, Thiên Chúa bắt đầu lấp đầy : Các vì sao trên vòm trời, cá và các loài dưới biển, chim chóc trên trời, thú vật. Nhưng khi nói đến việc tạo dựng con người, là chóp đỉnh của tạo thành, lời văn mang một vẻ trịnh trọng đặc biệt. Tác giả lại còn hình dung như Thiên Chúa suy tính, bàn bạc với chính mình (hoặc với triều thần) trước khi làm việc quan trọng này: Chúng ta làm ra con người theo hình ảnh chúng ta. “Cử chỉ đó, nói nên con  giá trị và địa vị của con người về tình yêu đặc biệt giữa Thiên Chúa và con người”
[1]. Như thế, ta thấy con người được Thiên Chúa siêu nhiên hóa ngay từ đầu, biểu hiện qua.
 
I. Tình trạng hạnh phúc nguyên thủy
1. Nơi cử chỉ của Thiên Chúa sáng tạo
a. Có bàn bạc: 
Khi sáng tạo muôn tinh tú, muôn sinh vật,…trong vũ trụ, Thiên Chúa chỉ phán một lời liền có như vậy nhưng con người được Thiên Chúa tạo dựng một cách đặc biệt Thiên Chúa phán: “Chúng ta hãy làm ra con người theo hình ảnh chúng ta, giống như chúng ta…”
[2]. Tác giả lại còn hình dung như Thiên Chúa suy tính, bàn bạc với chính mình trước khi làm việc quan trọng này: Chúng ta làm ra con người theo hình ảnh chúng ta. Vậy con người là gì mà Thiên Chúa “bàn bạc”, “suy tính” trước khi tạo dựng? Tại sao con người lại được sinh ra sau cùng? Phải chăng Thiên Chúa muốn dành cho con người một vị trí trổi vượt trên tất cả các thụ tạo khác. Ngài đã sáng tạo trời đất, cỏ cây sinh vật, đất đai, tinh tú,...tất cả để cho con người. Nên việc tạo dựng con người có một địa vị và phẩm giá cao cả trước mặt Thiên Chúa.
b. Có đồ mẫu
 Thiên Chúa dựng nên con người theo hình ảnh Thiên Chúa, giống như Thiên Chúa. Chúng ta khó mà xác định được ở đây hình ảnh của Thiên Chúa đó là gì và con người giống Thiên Chúa chỗ nào. Có lẽ có nghĩa là con người có tính chất linh thiêng và gần Thiên Chúa hơn các loài khác, vì có trí khôn và tự do. “Trong tất cả các thụ tạo hữu hình, chỉ con người có khả năng nhận biết và yêu mến Đấng tạo hóa của mình. Chỉ con người được kêu gọi tham dự vào sự sống của Thiên Chúa, bằng sự nhận biết và tình yêu. Con người được tạo dựng vì mục đích đó và đó là lý do căn bản của phẩm giá con người: “Chính vì tình yêu khôn tả đã khiến Chúa nhìn đến thụ tạo của Chúa nơi chính Chúa, Chúa đã ‘say mê nó’. Vì tình yêu Chúa đã dựng nên nó, vì tình yêu Chúa đã cho nó hiện hữu, để nó nếm được sự tốt lành vĩnh cửu của Chúa””
[3].Vì giống như Thiên Chúa, nên con người được quyền bá chủ, cai quản muôn loài, như người đại diện của Thiên Chúa.
c. Việc tạo dựng người nữ
Thiên Chúa dựng nên chúng có nam có nữ. Ý niệm “người” được thể hiện trong phái nam cũng như phái nữ, cả hai đều là hình ảnh Thiên Chúa. Theo St, 27 – 28 sự phân biệt nam nữ, bình đẳng giữa hai phái, và việc truyền sinh đều do ý Thiên Chúa
[4]. Thiên Chúa dựng nên người nữ. Ở đây có hai ý chính: Người nữ thuộc cùng một loài, một bản tính với người nam. Trong tiếng Hipri, chữ ishsha (đàn bà, vợ) giống chữ ish (đàn ông, chồng) như thể bởi ish mà ra. Đàng khác lại có kiểu nói “người nọ bởi xương, bởi thịt người kia” để chỉ hai người có họ hàng ruột thịt với nhau (x. St 29,14; 37,27; Tl 9,2). Do đó khi tác giả hình dung Thiên Chúa lấy một cái gì bởi người nam để làm nên người nữ, tác giả có ý nói: cả hai cùng một loài với nhau và rất thân thiết với nhau.
Như vậy con người đã được một kẻ giúp đỡ hoàn toàn tương xứng, một bạn đời thích hợp. Cả hai còn hoà hợp với Thiên Chúa, nên sống trong một thế quân bình, hoà hợp trong chính mình cũng như đối với nhau, vì thế họ không hổ thẹn trước mặt nhau. Thiên Chúa cho con người được cộng tác với Ngài trong việc cai quản vũ trụ và việc lưu truyền sự sống.
2. Nơi chính con người
Con người được tạo dựng theo hình ảnh Thiên Chúa, nên con người là một hữu thể vừa có xác vừa có yếu tố tinh thần (linh hồn).
a. Nơi thân xác
Sách St 2,7: “Đức Chúa là Thiên Chúa lấy bụi từ đất nặn ra con người, thổi sinh khí vào lỗ mũi, và con người trở nên một sinh vật”. Đây là một câu quan trọng, dùng hình ảnh để nói lên những ý niệm: Thiên Chúa nắn nên con người: Thần thoại miền Lưỡng Hà (Trung Đông) cũng nói đến thần minh lấy đất nắn thành người. Tác giả Thánh Kinh mượn hình ảnh này có ý nói: cũng như đồ gốm tuỳ tay thợ gốm, con người là gì thì hoàn toàn ở ý Thiên Chúa. Thiên Chúa lấy bụi đất mà làm ra người: Trong tiếng Hipri chữ Ađam (người) và Ađama (đất) gần giống nhau. Vì thế tác giả hình dung người làm bằng đất để nói rằng: bản chất con người là giòn mỏng, yếu đuối và con người có liên hệ mật thiết với đất.
Như vậy tác giả mô tả Thiên Chúa làm một việc cụ thể, nhưng tác giả không có ý nói con người được làm nên cách nào mà nói con người là gì: con người là bởi Thiên Chúa; xét về thể chất, con người có liên lạc với đất, xét là loài có sự sống, con người gần với Thiên Chúa hằng sống. “Thân xác con người được dự phần vào phẩm giá là hình ảnh của Thiên Chúa: Nó là thân xác nhân linh chính vì được linh hồn thiêng liêng làm cho sinh động, và toàn bộ nhân vị được đặt định trở nên đền thờ Chúa Thánh Thần, trong Thân Thể Đức Kitô”
[5].
 
b. Nơi linh hồn
Thiên Chúa thở hơi sống vào mũi: theo nhận xét thông thường, có thể xem hơi thở qua mũi mà biết ai con sống hay không, không hơi thở tức là chết. Do đó tác giả hình dung lỗ mũi như cửa qua đó Thiên Chúa ban sự sống: con người là bụi đất, nhưng sự sống là do Thiên Chúa ban. Điều cao quý nhất của con người là linh hồn. Linh hồn là thực thể trung gian giữa trời và đât, giữa vũ trụ được tạo thành và với Đấng Tuyết đối hằng hữu. Bởi vì, con người được dựng nên từ chất liệu của vũ trụ và mang lấy hình ảnh của Thiên Chúa. Hội Thánh dạy rằng mỗi linh hồn thiêng liêng được tạo dựng trực tiếp bở Thiên Chúa chứ không phải do cha mẹ “sinh sản”. Linh hồn thì bất tử, và sẽ sống lại trong ngày sau hết
[6]. Nghĩa là sự sống của con người được tham dự vào sự sống của Thiên Chúa, khiến con người thuộc về Thiên Chúa.
 

3. Các đặc ân trừ nhiên[7]
Thiên Chúa tạo dựng con người giống hình ảnh Thiên Chúa, ban cho con người có hồn và xác đồng thời Thiên Chúa tình yêu cũng ban cho con người những đặc ân siêu nhiên để cho con người được sống hạnh phúc. Những đặc ân mà con người sơ thủy nhận được cũng biểu lộ tính siêu nhiên hóa.
 
a.                        Đặc ân của xác
[8]: bất tử, sách Sáng thể đã diễn tả đặc ân ấy bằng hình ảnh Cây Trường Sinh. Mục đích của Thánh ký muốn nói, con người sẽ sống mãi nếu cứ ở trong Lạc Viên thân mật với Thượng Đế. Nhờ cái bất tử tính có điều kiện ấy mà xác con người không bệnh tật hay già đi. Các Công đồng: Carthage (418), Orange (529), Tridentinô (1546) đã định tín chân lý ấy.
 
b.  Đặc ân của hồn: nơi hai tài năng thượng đẳng của hồn, cũng có những đặc ân khác thường khiến ta liên tưởng đến cuộc siêu nhiên hóa ban đầu.
- Đặc ân nơi trí khôn: một tri thức hoàn hảo. Điều này có tính xác thực thần học, dựa vào Kinh thánh, thánh Augustinô nhận thấy một tri thức ưu tú nơi Adam, ở chỗ Ông được Chúa trao cho nhiệm vụ đặt tên cho các vật sống. Tuy ngoại trương, đối tượng và yếu tính của ân huệ này, chúng ta không rõ, vì Kinh thánh và Thánh truyền không nói tới. Nhưng các nhà thần học cho rằng, ngoài tri thức thường nghiệm, Adam còn được trang bị băng tri thức thiên phú, tương xứng với số phận cái nhân và sử mệnh đoàn thể của Adam là đầu và là nhà giáo dục nhân loại (St 2,19-20).
- Đặc ân nơi ý chí: theo bản đồ của Thượng đế, con người được dựng nên là để được tham dự vào việc chế ngự đại vũ trụ cùng tiểu vũ trụ (chính thân xác con người). Ý chí của con người có khả năng làm chủ vạn vật. Sách Sáng thế dùng từ: “chế ngự”, có nghĩa là: đạp dưới chân, cử chỉ của người thắng trận (2Sm 8,11; Tv 110,1). Cử chỉ này có nghĩa là chuyển thông quyền thống trị, con người nghiễm nhiên trở thành ông vua nhỏ. Chủ quyền của con người còn được diễn tả qua việc đặt tên cho các vật sống (Tv 8,6-9; Kn 9,1-2).
Việc làm chủ thân xác, được diễn tả trong câu: “Cả hai nam nữ trần truồng mà không xấu hổ trước mặt nhau ” (St 2, 25). Các nhà thần học gọi đó là đặc ân nguyên tuyền, nhờ đặc ân này, mọi dục vọng hạ đẳng tuân phục dục vọng thượng đẳng là ý chí. Thánh Phaolô nhấn mạnh dục vọng hạ đẳng là kết quả của tội (Rm 6,12) và thánh Thomas Aq. cho rằng, trần truồng mà không xấu hổ là nhờ mảnh áo công chính che cho.
 
c.  Đặc Ân cả hồn và xác: hạnh phúc. Được sống thân mật với Thượng Đế trong lạc viên, ơn bất tử, tri thức hoàn hảo, ý chí luôn hướng hạ để làm chủ và hướng thượng để suy phục, vất vả bệnh tật không lẻn vào được... còn chi hạnh phúc hơn.
 
d.  Sự hòa hợp giữa con người với con người: trong cộng đoàn nhỏ bé ban đầu, đã có một sự bình an đến nỗi hai người nam nữ đã sống trong sự hòa hợp, thân ái và không có gì phải che giấu giữa nhau. Giữa họ có một sự hòa điệu hoàn toàn: “người nam và người nữ đều trần truồng và họ không cảm thấy xấu hổ ”(St 2, 25) chứng tỏ một sự tin tưởng và kính trọng nhau hơn cả sự lo lắng tính dục vô trật tự lôi cuốn. Qua đó, ta thấy hai ông bà đã sống trong tình trạng vô tội và hoàn toàn hạnh phúc.
 
e. Sự hòa hợp giữa con người và thú vật:
Sự bình an sâu xa giữa Thiên Chúa và con người còn lan tỏa trên toàn thể thể giới loài vật diễn ra trước mặt ông Adam. Adam đặt tên cho từng con vật, có nghĩa là ông biết được bản tính của chúng với tất cả mọi tính chất đặc thù, ông có quyền trên chúng, một thứ quyền vô hạn định, nhưng có tính chất an hòa.
Vườn Địa Đàng cho người đến ở.
Được định cư trên đất và làm chủ vạn vật đã là quí lắm rồi. Thượng Đế lại còn ban địa đàng cho hai Ông Bà. Trên trần gian, chỉ có vua chúa mới có. Ngoài trần gian, chỉ có thần minh mới có. Con người được sống trong vườn đó với Thượng Đế, hẳn là con người phải có mối dây thân mật khác thường với Ngài, và mối dây này vượt hẳn mối dây ràng buộc thụ tạo với Tạo Hóa.
Tất cả những điều chúng ta vừa nhìn lại, cho thấy bằng chứng về cuộc siêu nhiên hóa con người sơ thủy.
 
II. Con người nhớ nhung thuở ban đầu
1. Con người phạm tội nên mất ơn Ban Đầu.
Thiên Chúa đã tạo dựng con người theo hình ảnh Ngài và cho họ sống trong tình bằng hữu với Ngài. Là một thụ tạo tinh thần, con người chỉ có thể sống trong tình bằng hữu đó bằng cách tự do suy phục Thiên Chúa
[9]. Nhưng con người bị ma quỷ cám dỗ, đã mất tin tưởng và lạm dụng tự do nên đã bất tuân lệnh Thiên Chúa. Bởi con người đã nghe theo lời dụ dỗ của con rắn và nghi nghờ tình thương của Thiên Chúa. Đồng thời con người cũng kiêu ngạo, lạm dụng tự do Chúa ban để chống lại Thiên Chúa. Hậu quả đầu tiên của tội: họ tưởng mình sẽ biết lành dữ, thực sự họ biết lành dữ theo nghĩa khác, nghĩa là họ kinh nghiệm sự dữ ngay trong chính mình. Thay vì trở nên mạnh thế như thần thánh, họ chỉ nhận biết mình yếu đuối, không có gì cả. Một trật, tội lỗi đã gây ra sự đổ vỡ trong con người, làm mất thế quân bình và và hoà hợp nơi họ, họ không làm chủ được mình nữa, do đó họ cảm thấy hổ thẹn trước mặt nhau. Hậu quả của tội là con người bị trục xuất khỏi vườn và phải xa cây trường sinh. Trước kia con người đã được dựng nên và đặt vào vườn, có ý nói các đặc ân mà Thiên Chúa ban cho[10].
Sau khi phạm tội, con người mất tình nghĩa với Chúa, mất sự sống vĩnh cửu, mất ơn phúc kiến và vì mất tình nghĩa với Chúa nên con người cũng mất hòa hợp với tha nhân và vũ trụ
[11].  
 
2. Con người nhớ nhưng thưở ban đầu
Sau khi phạm tội và bị mất các ơn thuở ban đầu, con người phải sống trong đau khổ, lầm than, lưu đầy,…và nhất là phải xa cách Thiên Chúa nên con người nhung nhớ tới thuở ban đầu được sống trong tình trạng ân sủng trước mặt Thiên Chúa. Sự nhớ nhung ấy được diễn tả qua các Thánh Vịnh, sách Ai Ca, Giêrêmia, và Gióp.
a.  Thánh v
nh[12]
Thánh vịnh cầu xin:  Tv 74,12-17,
12 Thế mà lạy Thiên Chúa, Vua chúng con từ muôn thuở,
Đấng từng chiến thắng trên toàn cõi địa cầu,
(...)
17 chính Ngài vạch biên cương cho cõi đất,
thời hạ tiết đông, cũng chính Ngài thiết lập.
 
 Thiên Chúa còn dựng nên ngày và đêm, sắp đặt thời tiết. Vịnh gia nhắc lại công trình tạo dựng để tỏ lòng trông cậy vào ơn cứu độ của Thiên Chúa, cầu xin Người giải thoát khỏi kẻ thù.
- Tv 89,6-15s (c. 8-12 : cầu cùng Thiên Chúa trung tín)
6 Lạy CHÚA, thiên đình xưng tụng những kỳ công của Chúa,
cộng đoàn chư thánh ca ngợi lòng thành tín của Ngài.
 
7 Trên cõi trời cao, nào có ai sánh tày ĐỨC CHÚA?
Trong hàng thần thánh, hỏi có ai giống CHÚA được chăng?
(...)
15 Bệ ngai vàng: này công minh chính trực,
quân tiền phong: đây tín nghĩa ân tình.
 
Thánh vịnh ca tụng sự uy nghi của Thiên Chúa các đạo binh, Đấng tạo dựng trời đất và biển khơi, những kỳ công Người đã thực hiện cho Israel. Nhắc lại việc Thiên Chúa tuyển chọn dòng dõi Đavít.
- Thánh vịnh ngợi khen: Chúc tụng Thiên Chúa vì những kỳ công ...
Công trình tạo dựng vũ trụ được liên kết với những kỳ công Chúa làm cho dân Người.  Tv: 104 : Huy hoàng của tạo vật hướng theo vũ trụ học của Khởi nguyên 1.
2a : Người choàng long bào sự sáng.
2b : Người căng trời như màn trướng.
6 - 9 : Người đặt ranh giới cho nước.
13-16 : thảo mộc.
19-20 : tinh tú, ngày đêm.
27-30 : động vật.
 
Vịnh gia chiêm ngưỡng sự huy hoàng của vũ trụ vạn vật và ca ngợi tác giả là Yavê Thiên Chúa. Trong cái nhìn của Vịnh gia, hạnh phúc của con người là được chúc tụng Thiên Chúa vì những kỳ công của Người.
- Tv 148 : Vũ trụ ngợi khen Thiên Chúa
Vịnh gia mời gọi các thứ tạo vật trong vũ trụ thiên nhiên ngợi khen Thiên Chúa Yavê, Đấng Cao Cả đã tác tạo ra chúng.
- Tv 136 : “kinh cầu tạ ơn”.
4-9 : tạo dựng
10s : cứu độ
Tạ ơn Thiên Chúa, vì Người đã dựng nên muôn loài,
và đã cứu thoát Israel ra khỏi Ai Cập, hướng dẫn hành trình vào hứa địa.
 
b. Sách Ai Ca
Sách Aica (1,1-22), đây là bài ca thứ nhất nơi lên sự áp bức và những đau khổ của dân ngoại đang đè nặng trên dân của Ngài. Chính trong hoàn cảnh bi đát này, con người nhận ra tội lỗi của mình xúc phạm đến Chúa, chính do mình chối bỏ Thiên Chúa nên con người mới nơi vào sự đau khổ này.
 “Bị lưu đày, Giu-đa cực khổ, phải làm tôi nhuốc hổ vô cùng.
Này đây giữa dân ngoại nàng đang sống,
nàng chẳng hề được vui thú nghỉ ngơi.
Mọi kẻ rượt theo nàng
đã bắt được nàng trong đường cùng ngõ hẻm”. (Ac 1,3)
Trong cảnh đau khổ tột cùng, con người khẩn nài Thiên Chúa hãy thương nhìn đến đứa con chính Ngài đã làm ra và xin Ngài đoái thương.
“ Lạy ĐỨC CHÚA, xin hãy nhìn xem:
giữa cảnh khốn cùng, ruột gan con đòi đoạn,
trái tim con thổn thức bồi hồi” (Ac 1,20).
Con người lại đến sự trung tín của Thiên Chúa. Cầu xin Ngài đoái thương đến nỗi khổ nhục mà dân Ngài đang gánh chịu
“Lạy ĐỨC CHÚA, xin Ngài nhớ cho:
chúng con khổ cực biết chừng nào.
Xin đưa mắt nhìn xem
nỗi nhục nhằn chúng con phải chịu” (Ac 5,1).
 

c. Sách Job[13]
- Sách Gióp chương 28, cho chúng thấy Thiên Chúa Đấng khôn dò khôn thấu: Tác giả suy tư về cách cư xử của Thiên Chúa đối với cá nhân và tập thể : Thiên Chúa vượt trên con người, không ai thấu hiểu đường lối của Người. Người là Đấng Tạo Hoá Siêu Việt, là Chúa và là Chủ Tuyệt Đối. Con người được mời gọi chiêm ngưỡng sự khôn tả của các công trình Người, từ đó sẽ nhận ra Người là Đấng khôn dò thấu.
Con người nhớ lại thuở ban đầu về một Thiên Chúa toàn năng, chính Ngài đã dựng nên trời đất muôn vật hữu hình và vô hình.
Thiên Chúa như thách đố con người tìm hiểu các bí mật của vũ trụ. Các tác giả trình bày làm nổi bật sự kỳ diệu của các công trình Thiên Chúa, sự nhỏ bé và tầm thường của con người trước mặt Thiên Chúa. Con người không thể biết cách thức Thiên Chúa thực hiện các công trình của Người. Càng “nhân hình hoá” hoạt động của Thiên Chúa càng làm nổi bật sự khôn tả của Thiên Chúa.
“Rồi Người nói với con người:
Này, kính sợ Chúa Thượng, đó là khôn ngoan,
tránh xa điều ác, đó là trí hiểu." (G 28,28).
 
III. Thiên Chúa công chính hóa con người
Sau khi sa ngã, con người không bị Thiên Chúa bỏ rơi. Trái lại, Thiên Chúa goi con người  và một cách bí nhiệm, loan báo cho con người cuộc chiến thắng trên sự dữ và việc nâng con người sa ngã dậy. Thánh Tôma nói: “không có gì ngăn cản bản tính loài người, sau tội lỗi, lại được nâng lên một mức cao hơn
[14]. Thiên Chúa vẫn trung thành với chính Ngài là yêu thương đến cùng. Vì chính Ngài là Tình Yêu nên luôn giữ trọn lời trung tin đến muôn đời. Người hứa ban Đấng Cứu Độ đến giải thoát con người khỏi tội lỗi và nâng con người lên với Thiên Chúa.
1. Phục hồi con người
Giáo lý Hội thánh Công giáo số 1987 nói về sự công chính như sau: “Ân sủng của Chúa Thánh Thần có sức mạnh công chính hóa chúng ta, nghĩa là, rửa chúng ta sạch tội lỗi, và truyền thông cho chúng ta sự công chính của Thiên Chúa nhờ đức tin vào Chúa Giêsu Kitô và nhờ bí tích Rửa tội”
[15]. Như thế chúng ta thấy, con người ban đầu phạm tội bất tuân phục Thiên Chúa nên đã mang tội vào thế gian. Tội làm cho con người xa cách Thiên Chúa nhưng Thiên Chúa vẫn một lòng trung tín và yêu thương. Chính Thiên Chúa đã chủ động kế hoạch yêu thương để giải thoát con người khỏi tình trạng tội lỗi trước. Thánh Phaolô viết rằng: “những ai không đi tìm Ta, đã tìm thấy Ta. Ta đã tự mạc khải cho những người không hỏi Ta điều gì”[16].  Công Đồng Tridentino: “Người tới bắt đầu cuộc công chính hóa nhờ ơn tiền sủng của Chúa Kitô, nghĩa là nhờ ơn Ngài gọi trong lúc họ chẳng có công trạng gì, để họ vì tội mà xa cách Chúa, thì nhờ ơn kích sủng và trợ sủng, họ trở lại và được trở nên công chính”.
Như thế ân sủng của Chúa luân luân đi bước trước để giúp con người tội lỗi được trở nên công chính hóa. Vì tự bản chất con người tội lỗi không thể làm gì có công trạng trước mặt Thiên Chúa. Con người tội lỗi cũng không có quyền chi đòi Thiên Chúa phải trả công cho việc làm của mình cả. Nêu con người có chuẩn bị hay làm được việc lành nào để đón nhận ân sủng thì trước đó cũng phải có ơn tiền sủng Chúa ban để thúc giục họ làm điều tốt. Thánh Phaolô là người cảm nghiệm rất rõ về ân sủng của Thiên Chúa. Trước một nhân loại tội lỗi, thay vì nổi cơn thịnh nộ, Thiên Chúa lại biểu lộ sự công chính của Ngài để làm cho con người tội lỗi được trở nên công chính nhờ tin vào Đức Kitô. Đây là một hồng ân Thiên Chúa ban cho con người được thực hiện nơi cái chết và phục sinh của của Đức Giêsu. Cái chết của Ngài đã chuộc chúng ta, xóa tội lỗi của chúng ta.
Adam, con người đầu tiên đã phạm tội và tội đã làm cho con người rơi vào tình trạng đau khổ và xa cách Thiên Chúa nhưng nay nhờ ân sủng của Chúa Giêsu, Thiên Chúa đã cho con người được sống trong Đức Kitô và trong Thánh Linh, chứ không còn làm nô lệ cho tội lỗi và xác thịt nữa
[17].
2. Thiên Chúa Thần hóa con người
Kinh thánh cho chúng ta thấy rằng, Thiên Chúa không chấp tội lỗi của chúng ta, nhưng còn tẩy sạch tội lỗi của chúng ta. Hơn thế nữa, Người còn đổ Thánh Linh là tình thương xuống tâm hồn chúng ta để biến đổi chúng ta nên nghĩa tử. Chúng ta được trở nên những thụ tạo mới: “Phàm ai ở trong Đức Kitô đều là thụ tạo mới; cái cũ đã qua, và cái mới đã có đây rồi” (2Cr 5,17). Chúng ta cũng được tái sinh như Chúa Giêsu nói với ông Nicôđêmô hãy sinh ra một lần nữa (Ga 3,3-7). Tử tưởng này được nhắc đến cách riêng trong bí tích Rửa tội. Thánh Phao lô cũng viết: “Thiên Chúa, Đấng cứu độ chúng ta, đã biểu lộ lòng nhân hậu và lòng yêu thương của Người đối với nhân loại. Không phải vì tự sức mình chúng ta đã làm nên những việc công chính, nhưng vì Người thương xót, nên Người đã cứu chúng ta nhờ phép rửa và ban ơn Thánh Linh để chúng ta được tái sinh và đổi mới” (Tt 3,5-6).
Vài giáo phụ đã diễn tả công hiệu của ơn gọi Kitô hữu như là cuộc “thần hoa” hoặc “thiên hóa”. Những từ ngữ ngày diễn tả một cuộc thay đổi con người tự bản chất và mô tả hành trình tâm linh. Còn thần học kinh viện diễn tả con người được nâng lên hàng “siêu nhiên”. Con người vẫn giữ bản tính của mình, nhưng bản tính được nâng cao lên nhờ ân huệ của Chúa
[18].
Chính Thiên Chúa đã tha thứ tội lỗi và thần hóa con người trong ân sủng của Đức Kitô. Con người đầu tiên – Adam đã phạm tội nhưng nay nhờ Đức Giêsu – Adam mới, con người được tái sinh làm con Thiên Chúa.
3. Con người được tham dự vào bản tính Thiên Chúa
Sự công chính hóa mới chỉ là kết quả đầu tiên của lòng Thiên Chúa khoan nhân dành cho con người, đó là tha thứ tội lỗi. Tình thương của Thiên Chúa còn đi xa hơn nữa, đó là đưa chúng ta đến sự hiệp thông với Ngài. Đức Kitô được ban cho nhân loại không những như hiến lễ xá tội, nhưng nhất là như là Con Thiên Chúa: Thiên Chúa muốn yêu thương chúng ta như Người yêu Con Một của Ngài, vì thế chúng ta được mời gọi kết hiệp với Đức Kitô để trở nên con cái của Thiên Chúa. Đã là con cái của Thiên Chúa, chúng ta cũng được tham dự vào bản tính của Ngài.
Có rất nhiều quan điểm về việc con người được tham dự vào bản tính Thiên Chúa. Giáo phụ Clemens Alex cho rằng: “Người mà có Thượng Ngôn ở với, không thay đổi, không giả dạng, lại có hình thức của Thượng ngôn, không phải giả đẹp, nhưng đẹp thực sự, vì họ là thần minh, người đó là thần minh vì Thiên Chúa muốn vậy”. Còn Heraclitus thì nói: “người là thần minh, thần minh là người, cả hai có một lý trí…rõ là mầu nhiệm, Thiên Chúa ở trong người, người là Thiên Chúa”
[19].
Chính nhờ tin vào Đức Kitô và kết hiệp với Người mà chúng ta được tham dự vào bản tính Thiên Chúa. Thánh Phaolô đã viết rất nhiều về sự tham dự này: “mang lấy những tâm tình và thái độ của Đức Kitô” (Pl 2,5). “Biến đổi nên hình dạng của Đức Kitô”, nghĩa là trở nên đồng hình đồng dạng với Người (Rm 8,29; Gl 4,19; 2Cr 3,18; Pl 3,10), mặc lấy Đức Kitô” (Gl 3,27), thông phần vào cái chết với Người để cũng được thông dự vào sự phục sinh của Người. Điều này được thực hiện cách riêng qua bí tích Rửa Tội và Thánh Thể
[20].
Như thế, chúng ta được thông phần bản tính Thiên Chúa nhờ chính ân sủng của Đức Kitô. Chính Đức Kitô đã chết và phục sinh đem lại ơn cứu độ cho tất cả mọi người chúng ta. Qua Bí tích Rửa tội, Thiên Chúa đã thánh hóa và công chinh con người tội lỗi và đặc biệt hơn nữa, chúng ta được nên đồng hình đồng dạng với Chúa Kitô khi chúng ta lãnh nhận bí tích Thánh Thể. Thịt Máu Chúa Kitô trở nên “thịt máu” của ta và ta được thông phần bản tính của Ngài. Chúng ta được trở nên con cái Thiên Chúa.
 
Tạm kết
Con người ban đầu phạm tội và rơi vào tình trạng mất ơn nghĩa với Thiên Chúa, mất sự hòa hợp với nhau và mất sự hòa hợp với các tạo vật khác nữa. Con người phải sống trong đau khổ và phải chết. Nhưng có lẽ đau khổ nhất là con người mất tình nghĩa với Chúa. Nhưng Thiên Chúa vẫn không bỏ con người trong tình trạng tội lỗi mà Ngài đã sai chính Con Một của Ngài là Đức Giêsu đến để cứu chuộc con người. Con người đầu tiên phạm tội nhưng nay nhờ sự khổ nạn và phục sinh của Đức Kitô cùng ân sủng của Ngài, chúng ta được tái sinh thành thụ tạo mới. Sự tái sinh này được thể hiện rõ khi chúng ta lãnh nhận bí tích Rửa tội. Hơn thế nữa, chúng ta còn được tham dự vào bản tính Thiên Chúa khi chúng ta lãnh nhận bích tích Thánh Thể. Mình và Máu Chúa Kitô đã trở nên máu thịt chúng ta. Nói cách khác chúng ta được dự phần vào chính Chúa Kitô. Như thế, cái có ban đầu và cái mất không thấm vào đâu so với việc Thiên Chúa siêu nhiên hóa con người qua chính ân sủng của Chúa Giêsu Kitô đã ban cho chúng ta. Từ đây, chúng ta trở nên một thụ tạo mới, nghĩa là: “trở thành con cái Thiên Chúa, làm nghĩa tử, tham sự vào bản tính Thiên Chúa, và vào sự sống muôn đời”
[21]. Tất cả những điều đó cho thấy con người được Thiên Chúa siêu nhiên hóa ngay từ khi tạo dựng.
 

[1] Giáo trình Ân Sủng (TTHVDM: 2013).
[2] St 1,26.
[3] Xc. SGLCG, số 356.
[4] Xc. St 1,1 – 2,4a.
[5] SGLCG, số 364.
[6] Xc. SGLCG, số 366.
[7] Xc. Ân Sủng, (TTHVDM: 2013), tr. 50-61.
[8] Xc. Ân Sủng, (TTHVDM: 2013).
[9] SGLCG, số 396.
[10] X. St 3,1-27.
[11] Phan Tấn Thành, Đời Sống Tâm Linh, tập 8, (Roma: 2009), tr.405.
[12] Xc. Bùi Văn Đọc, Khảo Luận Thần Học Về Tạo Dựng, (Đại Chủng viện Thánh Giuse: 1995), tr.14-15.
[13] Xc. Bùi Văn Đọc, Khảo Luận Thần Học Về Tạo Dựng, (ĐCV. Thánh Giuse: 1995), tr.15-16.
[14] Xc. SGLHTCG, số 410 và 412.
[15] Xc. SGLHTCG, số 1987.
[16] Rm 10,20.
[17] Xc. Phan Tấn Thành, Đời Sống Tâm Linh, tập 8, (Rô ma: 2009), tr.424.
[18] Xc. Sdd, tr.435.
[19] Xc. Ân Sủng, (TTHVDM: 2013), tr. 91.
[20] Xc. Phan Tấn Thành, Đời Sống Tâm Linh, tập 8, (Rô ma: 2009), tr.430-431.
[21] Xc. SGLHTCG, số 1996.

Tác giả bài viết: Tu sĩ Giuse Vũ Văn Tuấn

Nguồn tin: TTTN

  Ý kiến bạn đọc

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn