Dòng Thánh Tâm Huế, Việt Nam Online

Biện Phân Thần Khí theo Thánh Ignatio

Thứ tư - 22/01/2014 08:22
CSC - BIỆN PHÂN THẦN KHÍ THEO THÁNH IGNATIO Tu sĩ Giuse Vũ Văn Tuấn, CSC

BIỆN PHÂN THẦN KHÍ THEO THÁNH I-NHA-XI-Ô

Dẫn nhập[1]
Thiết tưởng chúng ta cũng nên sơ qua về con người I-nha-xi-ô đôi chút để hiểu về Ngài hơn. I-nha-xi-ô là một con người đầy tham vọng danh dự và hiếu thắng, nhưng những tham vọng đó đã tắt ngúm khi Ngài đã bị thương và phải nằm dưỡng bệnh ở lâu đài Loyola. Chính nơi đây, Ngài đã đọc sách kể về cuộc đời Đức Ki-tô hay hạnh các thánh. Đang lúc chữa trị, thánh nhân đã gặp được Thiên Chúa và bắt đầu cuộc chiến thiêng liêng. Một bên là Hạnh Các Thánh, Gương Chúa Giê-su, Kinh Thánh một bên là suy nghĩ về những ham muốn trần gian, một cô gái đẹp nhưng sau đó lại thấy khô khan. Thánh nhân muốn bắt chước những gì thánh Phan Sinh và thánh Đa Minh đã làm nhưng chính những hình ảnh đó cũng tạo nên cho Ngài nhiều hàm hồ và ray rứt. Niềm vui mà Ngài cảm nhận được lúc đầu nay lại bắt đầu chút chán ngán và phiền muộn. Ngài không hiểu do đâu an ủi và khô khan cứ thay nhau xảy đến trong tâm hồn ngài. Đã có lúc, Ngài đã rơi vào bối rối khủng khiếp, suýt tự sát. Ngài bước vào một đêm tối của tâm linh.
Một ngày kia, Ngài bừng tỉnh khỏi giấc mộng của mình và bước vào cuộc đời mới. Ngài đã quyết định từ bỏ lối sống cũ để bắt đầu sống theo hình ảnh của Thiên Chúa và để cho Thiên Chúa dẫn dắt, dạy dỗ mình. I-nha-xi-ô nhận ra rằng chính khi quy ngã, hướng về chính mình thì mình càng thấy thất vọng nhưng hãy quy hướng về tình yêu của Ba Ngôi: Cha - Con - Thánh Thần. Cảm nghiệm được tình yêu của Thiên Chúa, I-nha-xi-ô không muốn giữ cho riêng mình nhưng ngài muốn chia sẻ kinh nghiệm ấy cho tất cả mọi người qua tác phẩm “Linh Thao”. Trong số những nguyên tắc Linh Thao, ngài đã đưa ra 14 quy tắc căn bản và 8 quy tắc biện phân Thần Khí cấp cao, nhằm giúp mọi người nhận ra hoạt động của các loại thần, hầu tránh khỏi những ảo tưởng và sai lầm khi chọn lựa và bước theo Chúa
[2].
I. Tổng quát về biện phân Thần Khí theo I-nha-xi-ô
1. Biện phần Thần Khí theo I-nha-xi-ô là gì?
Ta có thể tóm lược những nguyên tắc hay những quy luật sống tâm linh của thánh I-nha-xi-ô được viết ra để giúp ta trong hành trình tâm linh. Các thần lành và thần dữ luôn đối nghịch nhau, làm cho ta rất khó có thể nhận ra một cách chính xác đâu là ý thần lành (Chúa) và đâu là ý thần dữ. “Thánh I-nha-xi-ô đã giúp ta hiểu biết những điều tối quan trọng và rất cần thiết, để ta có thể chống lại những trạng thái Tiêu Cực, và cũng để ta nhận thức được chính Thiên Chúa là tác giả của mọi biến cố xảy đến cho ta. Nhận thức này sẽ giúp ta học được những ảnh hưởng thần lành (tốt) và thần dữ (xấu). Như thế, ta có thể biện phân được đâu là thánh ý của Chúa trong đời sống tâm linh. Ta có thể học cách tìm ra thánh ý Chúa mỗi ngày, và ngay cả trong giây phút hiện tại trong đời sống của ta”
[3].
2. Ba bước biện phân Thần Khí theo thánh I-nha-xi-ô
Trong cuốn Linh Thao, I-nha-xi-ô đã đưa ra 14 quy tắc biện phân thần khí căn bản và 8 quy tắc biện phân thần khí cấp cao nhằm giúp cho người thụ hướng cảm biết và nhận ra những điều đang sảy ra trong tâm hồn mình. Làm sao để biết phân biệt được thần lành và thần dữ? Đâu là điều tốt và đâu là điều xấu? Những diễn biến của tâm hồn trong hành trình tâm linh tiến hay thoái? Ta đã cầu nguyện với Chúa và để cho Chúa Thánh Thần hoạt động trong ta? Và một điều vô cùng quan trọng là ta thường chọn theo sự hướng dẫn của ai? Thánh I-nha-xi-ô đưa ra ba phương thức giúp người thụ hướng để nhận biết, hiểu biết và quyết định trong đời sống tâm linh của mình.
2.1. Nhận thức: “sự quấy động xảy đến về mặt tâm lý, thể lý. Những quấy động ảnh hưởng tới tâm linh”
[4].
 2.2. Hiểu biết: “Ta đang ở trong tình trạng nào? An ủi thiêng liêng hay đêm đen? Hãy xét xem những khuấy động này có ảnh hưởng nhiều hơn trong hành trình đức tin của ta không? Và như thế, nó đã đến từ thần lành hay từ thần dữ?”
[5]
2.3. Quyết định: “Đây là lúc ta có cơ hội dâng lên Chúa những cố gắng của ta vì lòng yêu mến Ngài. Hãy viết xuống những điều ta sẽ quyết tâm thực hiện là chấp nhận hay bỏ cuộc. Hãy dùng những ân sủng và cơ hội Chúa ban để thực hiện điều này”[6].
II. Các quy luật biện phân thần khí
1. Khái quát về các quy luật biện phân thần khí theo thánh I-nha-xi-ô
1.1. Mười bốn quy tắc căn bản
[7]
Quy tắc I: Đối với những người sa ngã hết tội trọng này đến tội trọng khác, kẻ thù thường quen bày cho họ những thú vui bề ngoài, xui họ tưởng nhớ đến những khoái lạc và vui thú giác quan để dễ cầm giữ và thúc đẩy họ tiến sâu vào thói hư và tội lỗi. Với những người như thế, thần lành dùng phương pháp ngược lại, bằng cách thôi thúc cho lương tâm cắn rứt họ bằng luật tự nhiên của lẽ phải.
Quy tắc II: Nơi những người tiến mạnh trong việc diệt trừ tội lỗi và đang tiến lên hơn mãi trên đường phụng sự Thiên Chúa, Chúa chúng ta, thì lại có phương pháp ngược lại với quy tắc thứ nhất. Vì khi đó, đường lối riêng của thần dữ là cắn rứt, làm buồn phiền và đặt chướng ngại vật bằng cách gây băn khoăn lo lắng với những lý lẽ giả tạo để người ta tiến tới, còn cách thức riêng của thần lành là làm cho can đảm và sức mạnh, an ủi, nước mắt, ơn soi giục và an nghỉ, giảm bớt và hủy diệt các trở ngại để cho người ta tiến lên trong đàng lành.
Quy tắc III: Về an ủi thiêng liêng, gọi là an ủi khi linh hồn phát khởi một thúc đẩy nội tâm, khiến linh hồn bừng cháy lửa kính mến Đấng Tạo Hóa và Chúa mình, và do đó, không có thể yêu một thọ tạo nào trên mặt đất vì chính thọ tạo ấy, nhưng chỉ yêu trong Đấng tạo dựng mọi sự. Đó cũng là trường hợp linh hồn chảy nước mắt giục lòng mến Chúa, hoặc đau đớn vì tội lỗi mình, hay vì sự thương khó của Đức Ki-tô, Chúa chúng ta, hay về những điều khác trực tiếp hướng về việc phụng sự và ca ngợi Chúa. Sau cùng, còn gọi là an ủi mọi gia tăng của lòng tin - cây - mến, cùng mọi niềm vui bề trong mời gọi và lôi kéo (tâm hồn) đến những sự trên trời và phần rỗi riêng của linh hồn mình, làm cho linh hồn được nghỉ ngơi và an bình trong Đấng Tạo Hóa và Chúa mình.
Quy tắc IV: Sự sầu khổ thiêng liêng, gọi là sầu khổ tất cả những gì trái ngược với quy tắc thư ba, như một sự tối tăm trong linh hồn, xao xuyến bề trong, thúc đẩy về những gì thấp hèn và phàm tục, lo lắng về những sao động và cám dỗi xúi ta mất tin tưởng, cậy trông, lòng mến; [linh hồn] cảm thấy lười biếng, khô khan, buồn sầu và như bị lìa xa Đấng Tạo Hóa và Chúa mình. Bởi lẽ như an ủi trái ngược với sầu khổ thế nào, thì các tư tưởng do an sinh ra cũng trái ngược với các tư tưởng do sầu khổ sinh ra vây.
Quy tắc V: Trong thời gian sầu khổ, đừng bao giờ thay đổi, nhưng hãy cương quyết bền vững trong những quyết định và dốc lòng có trước khí bị sầu khổ, hoặc những quyết định đã có khi an ủi trước đấy. Bởi lẽ cũng như trong khi được an ủi, phần nhiều là thần lành hướng dẫn khuyên nhủ ta thế nào, thì trong cơn sầu khổ, thần dữ cũng làm như vậy, mà theo lời khuyên của nó, ta chẳng thể gặp được con đường đưa tới đích.
Quy tắc VI: Trong con sầu khổ, nếu như không nên thay đổi những điều đã quyết định, thì lại rất nên cương quyết thay đổi chính mình để chống lại với cơn sầu khổ ấy, chẳng hạn bằng cách chăm chú cầu nguyện, suy gẫm hơn, xét mình nhiều hơn và gia tăng sự hãm mình theo cách nào thích hợp.
Quy tắc VII: Đang gặp sầu khổ, ta hãy nghĩ rằng, để luyện ta, Chúa đã để ta với sức tự nhiên chống trả các xao động và cám dỗ của kẻ thù; như vậy ta vẫn có thể chống trả được, nhờ ơn Chúa vẫn giúp đỡ dù ta không cảm thấy rõ ràng. Vì Chúa rút bớt lòng sốt sắng nồng nàn, lòng mến bao la và ân sủng mạnh mẽ nhưng vẫn để lại ân sủng đủ cho sự cứu rỗi đời đời.
Quy tắc VIII: Đang cơn sầu khổ hãy gắng giữ sự nhẫn nại, là sự trái ngược với những xáo trộn xảy đến và nghĩ rằng chẳng bao lâu nữa sẽ được an ủi, nếu hết sức chiến đấu với cơn sầu khổ ấy, như đã nói ở quy tắc thứ sáu.
Quy tắc IX: Có ba nguyên do chính khiến ta sầu khổ:
- Thứ nhất: Vì ta không sốt mến đủ, lười biếng hay chểnh mảng trong các việc thiêng liêng; vậy là vì lỗi ta mà sự an ủi thiêng liêng lìa bỏ ta.
- Thứ hai: Để thử coi sức ta tới đâu và ta có thể vươn tới đâu trong việc phụng sự và ca ngợi Chúa, khi không được thưởng công bằng bấy nhiêu an ủi và ân sủng bao la.
- Thứ ba: Để ta học biết và nhận thức tận thâm tâm rằng, không phải tự ta làm phát sinh hay duy trì được lòng sốt sắng vô ngần, lòng mến mạnh mẽ, nước mắt hoặc ơn an ủi thiêng liêng, mà mọi sự đều là ân điển của Thiên Chúa, Chúa chúng ta, và để ta đừng “làm tổ ở cho người khác” và đừng tự đắc đến trở thành kiêu ngạo khoe khoang, tự gán cho mình lòng sốt sắng hay các hoa trái khác của ơn an ui thiêng liêng.
Quy tắc X: Khi được an ủi, phải nghĩ đến cách xử sự trong cơn sầu khổ sẽ đến, đồng thời dành lấy sức cho lúc đó.
Quy tắc XI: Ai được an ủi, phải gắng tự khiêm và tự hạ chừng nào có thể, bằng cách nghĩ mình nhỏ hèn biết mình trong cơn sầu khổ, khi không có ân sủng này. Trái lại, người lâm cơn sầu khổ phải nghĩ mình có thể làm được nhiều nhờ ơn sủng của Chúa trợ giúp, để chống trả mọi kẻ thù, nhờ lấy sức nơi Đấng Tạo Hóa và Chúa mình.
Quy tắc XII: Kẻ thù xử sự như đàn bà, vì khi ta chống trả thì nó yếu, và khi ta để mặc thì nó mạnh. Quả vậy, đặc tính của đàn bà khi gây gổ với người đàn ông, là mất can đảm và chạy trốn khi người đàn ông thẳng tay chống trả. Trái lại, nếu người đàn ông bắt đầu chạy trốn và mất can đảm, thì cơn giận, sự trả thù và sự hung dữ của người đàn bà thật không sao lường được. Cũng vậy, đặc tính của kẻ thù là yếu nhược, khiếp đảm và bỏ chạy với những chước cám dỗ của nó, khi người tập tành trong đàng thiêng liêng thẳng tay chống trả các cám dỗ của nó bằng cách làm điều ngược hẳn lại. Trái lại, nếu người ấy bắt đầu sợ hãi và mất cam đảm trước con cám dỗ, thì trên mặt đất này, không có vật nào hung dữ cho bằng kẻ thù của bản tính loài người trong việc theo đuổi ý định xấu xa của nó cách dữ dằn chừng ấy.
Quy tắc XIII: Kẻ thù cũng còn xử sự như kẻ si tình lẳng lơ, muốn giữ bí mật để khỏi bị lộ. Quả vậy, một người đàn ông đồi bại dùng lời xảo trá quyến rũ một thiếu nữ con nhà lành, hoặc vợ một người đứng đắn, thì muốn cho những lời dụ dỗ của hắn được giữ kín; trái lại hắn rất bất mãn khi thiếu nữ mách với cha, thiếu phụ mách với chồng những lời quyến rũ và ý xấu xa của hắn, vì hẵn dễ dàng suy ra rằng, không thể nào thành công được với chuyện hắn đã bắt đầu.
Cũng vậy khi kẻ thù của bản tính loài người đưa những sự xảo trá và xúi giục của nó vào linh hồn ngay lành, thì mong muốn những điều đó được tiếp nhận và giữ kín. Nhưng khi linh hồn tỏ ra với cha giải tội tốt hay một người đạo đức nào khác am tường những dối trá và sự hiểm độc của nó, thì nó rất bất mãn, vì nó kết luận rằng không thể đạt tới điều xấu xa mà nó đã bắt đầu, vì sự dối trá rõ rệt của nó đã bị phanh phui.
Quy tắc XIV: Kẻ thù lại còn xử sự như một tướng quân để thắng và cướp những gì nó muốn. Ví như một vị chỉ huy cầm đầu quân đội, sau khi đặt doanh trại và xem xét lực lượng hoặc cách bố trí của một thành trì, sẽ tấn công vào điểm yếu nhất; thì cũng vậy, kẻ thù của bản tính loài người lượn quanh để dò xét những nhân đức đối thần, các nhân đức trụ và các nhân đức luân lý khác của ta và điểm nào nó thấy ta yêu nhất và dễ nguy nhất cho phần rỗi linh đời đời của ta, nó sẽ tấn công vào đó và cố hạ ta.
1.2. Tám quy luật cấp cao
[8]
Quy tắc I: Đặc điểm của Chúa và các thiên thần khi soi giục là ban sự sảng khoái và vui vẻ thiêng liêng thật, xóa bỏ mọi buồn sầu và sao xuyến do kẻ thù đưa vào. Còn đặc điểm của kẻ thù là chống lại sự sảng khoái và niềm an ủi thiêng liêng ấy bằng cách đưa ra những lý do giả tạo, cầu kỳ và ngụy biện không cùng.
Quy tắc II: Chỉ có Thiên Chúa, Chúa chúng ta mới ban ơn an ủi cho linh hồn mà không cần có nguyên do trước. Vì quyền riêng của Đấng Tạo Hóa là vào, ra, đánh động linh hồn, lôi cuốn trọn vẹn linh hồn vào lòng yêu mến Ngài. Tôi nói không có nguyên do, nghĩa là không có một tình cảm hay một nhận thức về một đối tượng nào trước, nhờ đó sự an ủi phát sinh do tác động của trí tuệ và ý chí.
Quy tắc III: Khi có nguyên do, thần lành cũng như thần dữ đều có thể an ủi linh hồn, nhưng nhằm mục đích trái ngược nhau: thần lành nhằm mưu ích cho linh hồn, để nó lớn lên và ngày càng tốt lành hơn, còn thần dữ nhằm điều ngược lại, để rồi lôi cuốn linh hồn theo ý xấu xa đồi tệ của nó.
Quy tắc IV: Đặc điểm của thần dữ là giả dạng thần lành đi vào theo chiều hướng của linh hồn trung tín để rồi kéo linh hồn ra theo đường của nó; nghĩa là nó bày ra những tư tưởng tốt lành thánh thiện hợp với tâm hồn công chính, rồi lần lần gắng lôi kéo linh hồn ra theo những mưu mô ẩn kín và những ý đồ tồi tệ của nó.
Quy tắc V: Cần chú ý nhiều về diễn biến của tư tưởng. Nếu từ đầu đến cuối đều tốt, hướng hẳn về đường lành, là dấu hiệu của thần lành. Nhưng nếu diễn biến của tư tưởng đưa ta tới điều xấu hoặc lo ra, hay không được tốt như điều trước đó linh hồn đã định làm, hoặc làm giảm sút, khiến ta lo lắng, bối rối, mất sự bình an, yên tĩnh đã có từ trước. Đó là dấu hiệu rõ ràng điều ấy bởi thần dữ, kẻ thù của sự tiến tới và phần rỗi của ta.
Quy tắc VI: Khi đã cảm thấy và nhận ra kẻ thù của bản tính loài người bởi cái đuôi rắn của nó và mục đích xấu xa nó muốn đưa tới, thì điều có ích cho người bị cám dỗ là sau đó duyệt lại diễn biến của những tư tưởng tốt nó bày ra và khởi đầu của những tư tưởng ấy, và xem nó đã lần lần tìm cách khiến ta rời sự dịu ngọt và niềm vui siêu nhiên vốn có trước, cho đến chỗ đưa ra tới ý định tồi tệ của nó như thế nào. Để nhờ nhận biết và ghi lại những kinh nghiệm đó, ta sẽ giữ cho khỏi những dối trá thường lệ của nó sau này.
Quy tắc VII: Đối với những người đang tiến tới, thần lành soi dẫn linh hồn cách êm ái, nhẹ nhàng và dịu ngọt, như giọt nước thấm vào miếng bọt biển. Còn thần dữ thì thúc đảy cách chát chúa, ồn ào và sôi động, như giọt nước rơi thên đá. Với những người sa sút, thì các thần nói trên hành động ngược lại. Lý do là tùy theo tình trạng của linh hồn trái ngược hay hòa hợp với các thần nói trên, vì khi trái ngược thì các thần xâm nhập cách ồn ào, dễ thấy và nhận ra, còn khi hòa hợp thì các thần ấy xâm nhập lặng lẽ như vào nhà mình, cửa mở.
Quy tắc VIII: Khi an ủi không có nguyên do, thì không có cạm bẫy, vì như đã nói trên, đó là ơn của riêng Thiên Chúa, Chúa chúng ta. Song người sống thiêng liêng được Chúa ban ơn yên ủi phải tỉnh thức và chú ý xem xét và phân biệt thời gian được an ủi với thời gian tiếp sau, khi linh hồn còn nóng nảy và sung sướng vì ơn an ủi vừa qua và dư hưởng của ơn ấy. Quả vậy, trong thời gian tiếp sau ấy, nhiều khi tự mình suy nghĩ theo tư tưởng và suy luận riêng, hoặc do ảnh hưởng của thần lành hay thần dữ, ta hoạch ra những dự định và ý kiến mà không phải do Thiên Chúa, Chúa chúng ta, trực tiếp ban cho và vì thế, cần xét xem thật kỹ trước khi hoàn toàn tin tưởng ở những điều ấy và đem ra thực hành.
2. Giải thích các quy luật
2.1. Các quy luật căn bản
[9]
Các quy tắc căn bản này có thể giúp chúng ta cảm biết và nhận ra phần nào những thúc đẩy khác nhau đang diễn ra trong tâm hồn. Nhờ đó, chúng ta có thể đón nhận điều tốt và loại bỏ điều xấu.
2.1.1.Thực tại của tâm linh (quy tắc 1,2,3,4)
Với những kinh nghiệm sâu sa trong cuộc sống nội tâm, I-nha-xi-ô đã đưa ra những chỉ dẫn để giúp mỗi người biết phân định các diễn biến tâm linh đang xảy ra trong tâm hồn mình. Thần dữ thì chúng luôn tìm cách cám dỗ ta đi theo nó bằng cách bày ra hay khơi gợi những lạc thú. Khi ta sa ngã thì thần dữ càng cố gắng kéo ta rời xa Thiên Chúa (Qt.1) nhưng thần lành lại tìm cách kéo ta trở về với Thiên Chúa qua việc thức tỉnh lương tâm ta. Khi tội nhân đã ăn năn thống hối, xưng tội, ta được thanh tẩy và trở nên con cái yêu quý của Thiên Chúa. Lúc này, thần dữ lại cố gắng cẳn trở ta tiến lên đường trọn lành qua việc gây nên những trở ngại, nghi ngờ. Trái lại, thần lành ban thêm sức mạnh giúp ta hăng say yêu mến Thiên Chúa và phục vụ tha nhân trong niềm vui, hy vọng và bình an trong tình yêu của Chúa (Qt.2). Đây là thời điểm ta được sống trong ân sủng dồi dào của Thiên Chúa. Ân sủng này giúp ta chê ghét mọi sự thế gian để chỉ hướng về những sự trên trời và chỉ yêu một mình Thiên Chúa. Thần lành giúp ta tăng thêm lòng Tin - Cậy - Mến và cảm nhận được sự hiện diện của Thiên Chúa trong tâm hồn mình (Qt.3). Mặc dù ta được sống trong ân sủng của Thiên Chúa nhưng thần dữ nó vẫn không chịu ngồi im. Thần lành giúp ta cảm nhận được sự bình an trong tâm hồn trái lại thần giữ lại cố kéo ta về phía nó bằng những việc làm trái với quy tắc thứ 3. Lúc này, tâm ta rơi vào Đêm Đen hay tình trạng trống vắng ân sủng của Thiên Chúa. Trong Đêm Đen, lý trí và ý chí của ta thường thiếu thiếu sáng suốt và thường đặt ra những câu hỏi ngờ vực. Chính I-nha-xi-ô cũng đã chải qua Đêm Đen của cuộc đời nhưng tự bản chất của nó chưa phải là xấu. Có khi Chúa dùng Đêm Đen để thanh luyện và giúp ta nhận ra và chê ghét tội lỗi. Nếu ta kiên tâm và cố gắng chống lại những tiêu cực thì Chúa lại ban ơn rất dồi dào cho ta nhờ đó, ta biết tin tưởng, cậy trông và phó thác vào tình yêu của Thiên Chúa (Qt. 4). Qua bốn quy tắc đầu tiên này, I-nha-xi-ô đã giúp ta nhận ra những thực tại của tâm hồn, từ tội lỗi - tốt lành - ân sủng - đêm đen của linh hồn.
2.1.2. Phương thế chống ảnh hưởng lại tiêu cực (quy t ắc 5,6)
Trong quy tắc thứ 4, I-nha-xi-ô đã chỉ cho ta biết sự nguy hiểm của đêm đen. Nó luôn tạo nên những ngờ vực, bất an,...và gây nên sự xáo trộn trong tâm hồn ta vì thế nguyên tắc tối ưu cho ta khi ở trong tình trạng đêm đen là “không thay đổi”. Nghĩa là ta hãy kiên định với những quyết định trước đó khi sống trong tình trạng ân sủng với Thiên Chúa (Qt. 5). Phương cách thứ hai để chống lại ảnh hưởng của tiêu cực là hãy “làm ngược lại” với những cám dỗ của nó. Hãy kiên trì cầu nguyện ngay cả trong lúc khô khan, ngội lạnh tưởng như Chúa bỏ rơi ta, chẳng đoái hoài đến ta và hãy suy niệm một mình với Chúa để xin Chúa đến giải thoát ta. Sau đó, xét mình xem nguyên nhân nào đưa ta đến sự bất an và cống gắng làm việc lành để đền bù những tội lỗi của mình. Hành vi đó cho thấy thiện chí của tâm hồn muốn trở về với Chúa khi đó ta sẽ được thoát khởi đêm tối và được bình an.
2.1.3. Phương thế chống lại tiêu cực (quy tắc 7,8,9)
Ta thấy rằng trong Giáo Hội đã có rất nhiều vị thánh như Tê-rê-xa Hài Đồng Giê-su.,Tê-rê-xa Calcutta và ngay cả I-nha-xi-ô đã phải trải qua đêm tối đức tin. Chúa cho phép những tiêu cực xảy ra là để thanh luyện và giúp các tân hồn có thể tiến xa hơn trên đường tâm linh. Đây là giai đoạn thử thách Chúa để ta chiến đấu với kẻ thù. Thần dữ sẽ dùng những thủ đoạn tinh vi để gài bẫy ta làm cho tâm hồn ta hoang mang, chán nản, thất vọng,... cốt để ta xa rời Thiên Chúa. Vì thế, phương thế vượt thắng thần dữ là mọi quyết định và hành động của ta phải quy hướng về Chúa ngay cả lúc ta không cảm nhận được sự hiện diện của Chúa (Qt. 7). Trong đêm tối đức tin, tâm hồn ta thường bị giao động và bị xáo trộn bởi muôn vàn cám dỗ khiến ta muốn thối lui hay bỏ cuộc. Đây là lúc Chúa mời gọi ta hãy tập kiên nhẫn trong lúc bị thử thách. Hãy kiên nhẫn tiếp tục những công việc đã định trước đó và tin rằng mọi thử thách rồi sẽ qua mau (Qt. 8). Vậy tại sao Chúa lại để cho những tiêu cực xảy ra trong tâm hồn con người? I-nha-xi-ô đã chỉ ra ba nguyên nhân và qua đó Chúa muốn đào luyện tâm hồn ta. Nguyên nhân đầu tiên khiến ta rơi vào đêm tối tâm linh là do thiếu đời sống nội tâm với Thiên Chúa. Ta thường chểnh mảng trong việc cầu nguyện và làm các việc đạo đức. Thứ hai, Chúa muốn trắc nghiệm tình yêu của ta với Ngài qua việc giảm bớt ân sủng nơi tâm hồn ta. Để trong đêm tối ta phải tự sức mình làm việc gì đó vì lòng yêu mến Chúa. Cuối cùng, Chúa cũng muốn ta nhận thức và hiểu rằng ta không thể tự mình làm được gì nếu không có ân sủng của Ngài (Qt. 9). Như thế, chính trong đêm tối tâm hồn chúng ta cũng không nên thất vọng, trái lại hãy kiên nhẫn, tin tưởng và phó thác vào ân sủng của Chúa.
2.1.4. Phương thế quân bình đời sống tâm linh (quy tắc10, 11)
I-nha-xi-ô đã có kinh nghiệm rất sâu sắc trong đời sống tâm linh. Khi được sống trong tình trạng ân sủng, ta đừng có quá tự hào vì điều đó nhưng hãy biết khiêm nhường và cảm tạ ơn Chúa đã ban cho ta. Để rồi, khi gặp đêm đên hay sự cám dỗ của ma quỷ, ta không thất vọng, trái lại ta càng phải cầu nguyện nhiều hơn và tin tưởng phó thác vào sức mạnh của Chúa. Trong đêm đen, ta hãy cố gắng dùng trí để biện phân những ân sủng Chúa đã ban trước đó và xin Chúa đến giải thoát ta. Tóm lại, ta phải biết sống khiêm nhường trong mọi hoàn cảnh, mọi biến cố và hãy biết cảm tạ cũng như trông cậy vào Chúa luôn.
2.1.5. Phương thế đánh phá âm mưu của ma quỷ (quy tắc 12,13,14)
Ma quỷ là kẻ sảo quyệt, nó luôn tìm cách đánh phá ta và kéo ta ra khỏi tình trạng ân sủng. Nó dùng những thủ đoạn thật tinh vi, khéo léo và thường ẩn lúp dưới dáng vẻ của sự thiện nhưng nó chỉ mang tới cho ta hạnh phúc giả tạo. Mục đích của ma quỷ là lấy đi sự an ủi thiêng liêng, mất sự bình an nội tâm và nghi ngờ sự hiện diện của Thiên Chúa. Bằng kinh nghiệm của mình, I-nha-xi-ô đã đưa ra những thế đánh phá Sa-tan và vạc trần âm mưu đen tối của nó. Thứ nhất, ta hãy thẳng thắn và cương quyết ngay từ lúc đầu. Ta không bao giờ được là cà, thỏa hiệp hay nhân nhượng với những cám dỗ của nó. Mặc dù những cám dỗ đó luôn mang vẻ tốt lành nhằm đánh lừa nhận thức của ta nhưng ta phải dứt khoát từ chối ngay đừng chần chờ (Qt.12). Nguyên tắc thứ hai là “hãy nói lên sự thật và đưa sự lừa dối ra ánh sáng”. Thánh nhân chỉ cho thấy rằng, Sa-tan tuy là kẻ sảo quyệt, chuyên lừa dối nhưng là kẻ hèn nhát và sợ sệt. Nó rất sợ những việc làm đen tối bị phơi bày ra ánh sáng. Vì thế, ta hãy cam đảm trình bày những cám dỗ của Sa-tan với những vị linh hướng khôn ngoan để giúp ta vượt thắng cám dỗ của nó (Qt.13). Cuối cùng, Sa-tan cố tìm ra những điểm yếu, những lỗi phạm thường xuyên của ta để tấn công. Nó tìm cách lấy đi sự an ủi, niềm vui, bình an cốt làm cho ta mất ân sủng của Chúa. Hãy can đảm chiến đấu không khoan nhượng. Hãy nhận định điều Chúa muốn nơi ta và quyết tâm sửa chữa lỗi lầm (Qt.14). Như thế, Sa-tan có mạnh mấy đi nữa nhưng nếu ta không thỏa hiệp và nếu ta biết cậy trông vào ân sủng của Chúa thì nó không thể làm gì được ta.
2.2. Giải thích 8 quy luật biện phân Thần Khí cấp cao
Chúng ta đã vừa trải qua mười bốn quy tắc căn bản dành cho những người mới làm linh thao. Để giúp các các thụ nhân tiến xa hơn nữa trong đời sống tâm linh, I-nha-xi-ô đã đưa ra tám quy tắc cấp cao trong việc phân định các thần một cách hơn. Tám quy tắc này đều cùng về một vấn đề nhưng đòi hỏi ta phải biết phân định đâu là ý Chúa, các thần lành và thần dữ.
2.2.1. Đặc điểm của Chúa và thần lành (quy tắc 1,5,7)
I-nha-xi-ô đã chỉ cho ta thấy một cách rõ ràng về dấu hiệu nhận biết Chúa và các thần lành. Chúa và các thần lành không ngừng ban ơn cho ta, giúp ta tiến lên trong đời sống tâm linh và xóa bỏ mọi lo âu, tội lỗi của ta. Nhưng ta cũng cần chú ý về diễn biến nội tâm để nhận ra đây thực sự là ý Chúa và các thần lành. Nếu là ý của Chúa và các thần lành thì từ đầu tới cuối đều phải đi theo một chiều hướng nhất định. Khởi đầu tốt thì kết thúc cũng phải tốt, chứ không bao giờ có chuyện trái ngược nhau trong sự diễn biến của tâm hồn. Mục đích của Chúa và các thần lành trợ giúp, soi dẫn ta một cách êm ái, nhẹ nhàng và dịu ngọt trong đời sống tâm linh thuộc trọn về Chúa.
2.2.2. Đặc điểm của thần dữ (quy tắc 1,4,5,6)
Đặc điểm của thần dữ luôn làm ngược lại với đặc điểm của Chúa và các thần lành. Nếu Chúa và các thần lành ban ơn giúp ta tiến lên trong đường tâm linh thì thần dữ lại cố gắng đưa ra những lý do giả tạo, ngụy biện làm ta hoang mang, nghi ngờ sự an ủi của Chúa. Nhưng không phải lúc nào ta cũng có thể nhận ra thần dữ một cách dễ dàng bởi vì nó rất mưu mô, xảo quyệt. Nó ít khi cám dỗ ta một cách trực tiếp nhưng thường làm một cách giáp tiếp. Nó thường đội lốt thần lành để quyến rũ những linh hồn trung tín bằng những việc làm xem ra rất thánh thiện, đạo đức. Dấu hiệu để nhận ra thần dữ là khởi đầu tốt đẹp những kết thúc lại xấu xa. Nó khiến ta lo lắng, bối rối, bất an và dần dần xa rời Thiên Chúa và các thần lành.
2.2.3. Đặc điểm của an ủi không có nguyên do (quy tắc 2,8)
Ở đây, thánh nhân cho ta thấy Chúa luôn là Đấng đi trước trong việc thúc đẩy tâm hồn ta. Ngài ban ơn an ủi cho ta không phải vì công trạng hay một sự cố gắng nào cả. Chúa có toàn quyền ra, vào, đánh động và lôi cuốn linh hồn ta vào lòng yêu mến Ngài. Khi an ủi không có nguyên do thì cũng không có cạm bẫy vì an ủi này xuất phát từ chính Thiên Chúa. Tuy nhiên, ta cũng cần phải tình thức và chú ý xét xem kỹ lưỡng những tư tưởng và quyết định của ta trong lúc được an ủi và thời gian sau đó có thực sự do Chúa trực tiếp ban cho hay không trước khi đem ra thực hành.
2.2.4. Đặc điểm của an ủi có nguyên do (quy tắc 3)
Quy tắc này trái ngược với quy tắc an ủi không có nguyên do. An ủi không có nguyên do thì chỉ có thể đến từ chính Thiên Chúa. Còn an ủi có nguyên do thì có thể đến từ hai phía, tức là cả thần lành và thần dữ đều có những an ủi. Vậy làm sao ta có thể biện phân được đâu là an ủi của thần lành và đâu là an ủi của thần dữ. Để giải thích được quy tắc này, ta phải dựa vào những quy tắc khác nữa. Cả thần lành - dữ đều có thể an ủi linh hồn nhưng lại nhằm mục đích trái ngược nhau. Như đã nói, nếu là an ủi của thần lành thì từ khởi sự đến kết thúc đều phải thống nhất và tốt lành. Trái lại, khởi đầu tốt lành nhưng kết thúc xấu xa, tội lỗi thì chắc chắn là dấu hiệu của thần dữ.
Tóm kết
 Qua kinh nghiệm sống của mình, I-nha-xi-ô đã ghi lại những kinh nghiệm thiêng liêng quan trọng này. Sau này các kinh nghiệm ấy được tổng hợp thành sách gọi là “Linh Thao” nhằm giúp ích cho kẻ khác
[10]. Nhưng có lẽ nổi bật nhất là các quy tắc giúp người thụ hướng biện phân đâu là sự thúc đẩy của thần lành hay thần dữ. Hai loại thần này luôn đối nghịch nhau và làm xáo trộn đời sống tâm linh của ta. Do tội Nguyên Tổ[11], con người có khuynh hướng chiều theo sự dữ. Chính thánh Phao-lô cũng có kinh nghiệm rất rõ về điều này: “Với sự thiện mà tôi muốn thì tôi không làm, nhưng với sự dữ mà tôi không muốn thì tôi lại làm”[12]. Qua 14 quy tắc căn bản và 8 quy tắc cấp cao, I-nha-xi-ô đã giúp ta nhận thức dấu chỉ của thần lành và thần dữ, hiểu biết nhưng phương thức của mỗi thần trong đời sống tâm linh và ta quyết tâm lựa chọn theo Chúa. Một khi đã quyết định chọn con đường theo Chúa, ngoài sự cố gắng, lỗ lực, cầu nguyện, ta còn phải xin Chúa Thánh Thần canh tân, đổi mới, dẫn dắt ta bằng ân sủng của Ngài. Những quy tắc này là một cuốn cẩm nang thực hành hay một phương pháp giúp ta “nhận định các loại thần, để có những lựa chọn thiêng liêng phù hợp với giáo lý đức tin tức là trong việc tuân phục ý muốn Thiên Chúa”[13].


 
 

[1] Jean-Claude Dhootel, S.J, Một Vài Nét Trong Linh Đạo Thánh I Nhã, tr.3-10.
[2] Thánh I-nha Loyola, Linh Thao, bản dịch Việt ngữ của Nguyễn Công Đoan, S.J và Mai Sơn (Mariano Manso, S.J.) (Nxb An Tôn & Đuốc Sáng), tr.13.
[3] Terri Escalante, MD, Biện Phân Thần Khí, chuyển dịch và soạn thảo: Kim Loan Mai, tr.6.
[4] Terri Escalante, sđd, tr.27.
[5] Terri Escalante, sđd, tr.27.
[6] Terri Escalante, sđd, tr.27.
[7] Thánh I-nha Loyola, Linh Thao, bản dịch Việt ngữ của Nguyễn Công Đoan, S.J và Mai Sơn (Mariano Manso, S.J.), Nxb An Tôn & Đuốc Sáng, tr.189-195.
[8] Thánh I-nha Loyola, Linh Thao, bản dịch Việt ngữ của Nguyễn Công Đoan, S.J và Mai Sơn (Mariano Manso, S.J.), Nxb An Tôn & Đuốc Sáng, tr.196-199.
[9] Terri Escalante, MD, Biện Phân Thần Khí, chuyển dịch và soạn thảo: Kim Loan Mai, tr.29-59; 109-144.
[10] Thánh I-nha Loyola, Linh Thao, bản dịch Việt ngữ của Nguyễn Công Đoan, S.J và Mai Sơn (Mariano Manso, S.J.), Nxb An Tôn & Đuốc Sáng, tr.5.
[11] Đinh Trung Nghĩa, Khoa Sư Phạm I - Nhã, Nxb An Tôn & Đuốc Sáng, tr.44.
[12] Rm 7, 19.
[13] Thánh I-nha Loyola, Linh Thao, bản dịch Việt ngữ của Nguyễn Công Đoan, S.J và Mai Sơn (Mariano Manso, S.J.) (Nxb An Tôn & Đuốc Sáng), tr.7.
 
 
 
Tài liệu tham khảo
Nguyễn Công Đoan và Mai Sơn, S.J, Linh Thao, Thánh I-Nhã Loyola, Nxb: Anton & Đuốc Sáng.
Vũ Văn Tự Chương, Một Vài Suy Tư về Thánh Inhaxio Loyola và tập “Linh Thao”, Nxb: Phương Đông, 2009.
Hoàng Sóc Sơn, Nhật Ký Những Rung Cảm Nội Tâm - Inhaxio, Nxb: An Tôn & Đuốc Sáng.
Nguyễn Thế Minh, S.J, Bước Đường Linh Thao, Nxb: An Tôn & Đuốc Sáng.
Terri Escalante, MD, Biện Phân Thần Khí, (chuyển dịch và soạn thảo: Kim Loan Mai).
 

Tác giả bài viết: Tu sĩ Giuse Vũ Văn Tuấn, CSC

Nguồn tin: Dòng Thánh Tâm

  Ý kiến bạn đọc

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn