Dòng Thánh Tâm Huế, Việt Nam Online

Tự Đào Tạo Khả Năng Phân Định Thần Khí

Thứ tư - 29/01/2014 11:03
CSC Online - NỘI DUNG: Dẫn nhập I.RÈN LUYỆN NHÂN BẢN 1.Nhận biết chính mình 2.Nhận định đúng về hoàn cảnh và môi trường 3.Luyện óc phán đoán II.THAO LUYỆN THIÊNG LIÊNG 1.Đời sống nội tâm a.Sự thinh lặng b.Sống nội tâm 2.Đời sống Đức tin a.Cầu nguyện b.Sống Đức tin cách sống động 3.Tương quan mật thiết với Chúa a.Chiêm niệm b.Các kinh nghiệm tâm linh 4.Những phương thức cầu nguyện phù hợp a.Cầu nguyện chung b.Cầu nguyện riêng. c.Môi trường và phương tiện giúp cầu nguyện III.TRAU DỒI TRI THỨC 1.Nắm vững kiến thức xã hội căn bản 2.Tìm hiểu Thánh Kinh và các Truyền thống 3.Học hỏi Thần học và các giáo huấn của Giáo hội 4.Yêu chuộng đức khôn ngoan6 Tóm Kết

TỰ ĐÀO TẠO KHẢ NĂNG PHÂN ĐỊNH THẦN KHÍ

 
Dẫn nhập
Đào tạo khả năng phân định thần khí trong đồng hành thiêng liêng là việc cần thiết cho cả người đồng hành và người thụ hướng. Trong tiến trình đó, có thể nói “tự đào tạo” là giai đoạn chung và là một bước đi trước trong quá trình thao luyện thiêng liêng trước khi có sự phân biệt người thụ hướng hay người đồng hành. Thực tế, không ai có thể trở thành người giúp kẻ khác phân định thần khí trong khi chính bản thân mình không có khả năng đó. Bởi vậy, trước tiên người ta phải có trong chính mình khả năng phân định và những trải nghiệm thực tế mới có thể tự giúp mình và giúp người khác được.
Tự đào tạo khả năng phân định thần khí là việc tiên phong, dành cho cả người thụ hướng và người đồng hành. Tuy nhiên xét về khả năng và nhu cầu thì phải thừa nhận rằng khả năng phân định này bị đòi hỏi một cách bắt buộc nơi người giữ vai trò đồng hành, tức là người giúp cho người khác phân biệt thần khí. Còn đối với thụ nhân thì không bắt buộc. Nếu có được khả năng này thì việc phân định sẽ dễ dàng và nhanh chóng hơn. Tuy nhiên những người chưa có khả năng này vẫn có thể phân định thần khí thành công nhờ sự hướng dẫn, giúp đỡ của người khác có kinh nghiệm và kỹ năng. Đây cũng chính là lý do cốt yếu dẫn đến nhu cầu cần có những người đồng hành thiêng liêng vững vàng.
Tuy tự đào luyện là một bước nền tảng của cả người linh hướng lẫn người thụ hướng, nhưng trong giới hạn của bài viết này, chúng ta chỉ bàn đến việc đào tạo khả năng phân định thần khí căn bản chung nhất cho mọi người, nghĩa là việc tự luyện khả năng phân định của mỗi người nhắm tới mục đích là giúp chính mình trước. Còn để trở thành hướng dẫn viên có đủ khả năng giúp cho người khác thì cần thêm những yếu tố khác cao sâu hơn mà ở đây ta không đề cập tới.
Có thể nói rằng, về căn bản, để có được một khả năng tốt trong việc phân định thần khí, trước tiên chúng ta cần lưu ý việc đào tạo nhân bản như là việc tạo một nền móng cần thiết cho mọi hoạt động khác. Đồng thời cũng phải chú trọng việc thao luyện thiêng liêng, yếu tố quyết định và quan trọng nhất để có được khả năng phân định thần khí. Không chỉ vậy, việc trang bị cho mình một vốn kiến thức cần có về những gì liên quan cũng rất cần thiết vì nó góp phần quan trọng giúp ta tránh những sai lầm hay lạc hướng trong khi phân định.
I.     Rèn luyện nhân bản
Trong huấn giáo của Ki-tô giáo, ta thường nghe rằng một Ki-tô hữu tốt trước hết phải là một con người tốt. Ở đây cũng có thể nói một cách tổng quát tương tự như vậy rằng : Để có thể trở nên một người vững vàng trên đường thiêng liêng và có thể nhận định đúng đắn, chắc chắn trong việc phân định thần khí thì trước tiên phải là con người nhân bản tốt đã.
Trong khuôn khổ đề tài này, chúng ta không đề cập tất cả các tiêu chí nhân bản cách chung và đầy đủ như một cuốn giáo trình nhân bản, mà ta chỉ đề cập những yếu tố liên quan trực tiếp đến khả năng phán đoán và phân định thần khí mà chúng ta đang nói ở đề tài này mà thôi.
Nói đến khả năng phân định là ta đang đề cập đến khả năng lý trí của con người. Muốn phân định tốt, con người cần phải có khả năng nhận định và phán đoán chính xác, chân thực về chính mình, về người khác cũng như môi trường xung quanh.
1.        Nhận biết chính mình
Việc phân định trước tiên là khả năng nhìn thấy rõ những vấn đề, trong mọi hoàn cảnh của cuộc sống, trong các yếu tố hình thành nên các biến cố; nhưng nhất là thấy rõ bản thân mình.
[1] Tưởng chừng đây là việc ai cũng có thể làm dễ dàng, nhưng thực tế lại không phải vậy. Con người là một tổng thể vô cùng phức tạp. Con mắt thể lý dù có tinh tường cũng chỉ nhìn thấy được những cục diện bên ngoài. Còn phần tinh túy vô hình bên trong tâm hồn như lý trí, ý chí, tri thức, ước muốn … thì lại không thể nào đem ra cân đo đong đếm chính xác được. Cái phần quyết định về phẩm giá con người ấy lại cần đến sự đánh giá bằng lý trí. Muốn đánh giá bản thân một cách chính xác và chân thực, ta phải biết rõ, đâu là yếu tố quyết định bản chất và phẩm giá con người. Điều này đòi hỏi con người phải biết quy chiếu vào những giá trị chân thiện mỹ đích thực để thấy được chính mình. Nếu dựa trên những gì khác bên ngoài thì cái mà ta biết về chính mình chỉ là ảo ảnh, chỉ là hình bóng của thứ mà ta quan tâm hay thích thú chứ thực ra không phải là mình.
Tự biết mình là yếu tố rất quan trọng để con người đạt tới sự trưởng thành. Nếu không có nhận thức rõ ràng, đúng và đủ về mình, người thụ huấn dễ có khuynh hướng lệch lạc
[2] gây khó khăn hay cản trở sự trưởng thành và việc đào luyện bản thân. Khi không đánh giá đúng về bản thân, con người có thể tự đề cao mình bằng sự phòng vệ hoặc tự hạ thấp mình thái quá qua thái độ nhát đảm tự ti. Ảo tưởng về những khả năng mà mình thực sự không có thường gây ra những thất bại cho chính bản thân hay cho cả người khác nữa. Hơn nữa, khi đánh giá chính mình cao hơn mức thực sự mình có, con người sẽ dễ bỏ qua những cơ hội học hỏi, lập thành những bức tường vô hình để che chắn, phòng vệ cho “cái tôi ảo” mà họ đang ấp ủ. Ngược lại, việc đánh giá bản thân quá thấp lại chôn vùi đi những khả năng, những kho tàng quý giá là những nén bạc Thiên Chúa trao gửi mà chẳng thể sinh ích lợi gì.
2.        Nhận định đúng về hoàn cảnh và môi trường
Người biết phân định tốt là người có cái nhìn thực tế, biết nhìn hoàn cảnh như là nó xuất hiện, và họ có khả năng đọc ra các thực tại. Cần có cái nhìn sáng suốt, xuyên thấu cái vẻ bề ngoài để đào sâu vào cái căn nguyên và nắm bắt được cái thực tại một cách sáng suốt.
[3] Nhận định đúng về hoàn cảnh và môi trường là chất liệu cần thiết để có được những phán đoán chính xác khi phân định sự việc, và cũng từ đó ta có được những suy luận và phán quyết đích đáng cho từng tình huống cụ thể trong hoàn cảnh môi trường đó. Tuy nhiên, trong thực tế không phải lúc nào thực trạng môi trường và hoàn cảnh cũng là điểm tựa chắc chắn đúng cho ta phân định. Rất nhiều trường hợp sự thực hoàn toàn ngược lại với những suy luận dựa trên những yếu tố bên ngoài. Bởi thế, để có thể đạt tới chân lý đích thực ta còn cần có óc phán đoán tốt để phân tích và nhận định vấn đề nữa.
3.  Luyện óc phán đoán
Phán đoán là dựa trên những cơ sở, những dữ liệu đã có để đưa ra những phán quyết, những nhận định theo chiều hướng mà những dữ liệu đã có cung cấp. Từ đó ta có thể suy luận hay tiên đoán những trạng huống tiếp theo dù có thể chưa xảy đến.
Cụ thể trong việc phân định thần khí, óc phán đoán rất cần thiết khi ta phải dựa trên những dấu chỉ cụ thể là các hiện tượng, các sự kiện hay vấn đề liên quan để từ đó đọc được những dấu chỉ của thời đại, nhận định được những điều đó xuất phát từ nguyên ủy nào? Thần khí tốt hay Thần khí xấu?
Nhiều người khi nghe nói tới thần khí là nghĩ ngay đó là điều tốt vì xưa nay danh từ thần khí thường được dùng chỉ Chúa Thánh Thần. Tuy nhiên, Thánh Kinh đã nhiều lần nhắc tới những thần khí xấu, và đặc biệt, Thánh Gio-an nhắc nhở rằng đừng cứ thần khí nào cũng tin mà phải cân nhắc xem có phải bởi Thiên Chúa hay không, vì ngôn sứ giả lan tràn khắp nơi.
[4]
II.      Thao luyện thiêng liêng
Ơn phân định thần khí là một ơn do Chúa Thánh Thần.
[5] Thực vậy, ai cũng biết phân định thần khí là việc của đời sống thiêng liêng. Khi xác quyết đời sống nhân bản tốt là một nền tảng cần thiết để nuôi dưỡng và phát triển khả năng phân định nói chung, thì ta không phủ nhận giá trị của việc thao luyện thiêng liêng là yếu tố quyết định khả năng phân định thần khí. Việc thao luyện đó cần lưu ý đặc biệt đến đời sống nội tâm, đời sống thiêng liêng, cầu nguyện, mối tương quan và sự kết hiệp với Thiên Chúa cùng với một số những thực hành đức tin cụ thể.
1.         Đời sống nội tâm
a.    Sự thinh lặng
Khi nói đến thinh lặng trong đời sống Ki-tô giáo thì ta không chỉ nói về sự thinh lặng bên ngoài trong không gian môi trường sống mà còn nói đến một trạng thái thinh lặng của tâm hồn nữa.
Sự thinh lặng là điều kiện thiết yếu cho đời sống nội tâm. Trong bối cảnh ồn ào và náo động như của xã hội chúng ta, thinh lặng là bầu khí thiêng liêng cần có để có thể nhận ra sự hiện diện của Thiên Chúa và để cho sự hiện diện của Thiên Chúa có thể xâm chiếm mình.
[6]
Việc đào tạo thiêng liêng đòi hỏi mỗi người biết sống thing lặng trong cuộc sống hằng ngày, trong cử hành phụng vụ và những thời gian đặc biệt như tĩnh tâm, linh thao…, nhờ đó con người nhận biết mình để khiêm tốn và lắng nghe tiếng Chúa.[7]
 
 
b.    Sống nội tâm
                         i.     Thinh lặng nội tâm:
Thinh lặng nội tâm là sự bình an của linh hồn, nghĩa là nỗ lực kiểm soát các đam mê, kiềm chế những tưởng tượng viển vông, lo âu, kích động thái quá hay những suy sụp chán nản.
Người giữ được thinh lặng nội tâm thường không phụ thuộc nhiều vào hoàn cảnh bên ngoài, dù đứng giữa đại hội ngàn người ồn ào náo nhiệt cũng giống khi chỉ một mình trong chốn riêng tư. Những tâm hồn tìm kiếm sự thánh thiện phải luyện tập để có sự bình an ấy, nếu không có thói quen tập luyện như vậy, thì cũng chẳng có thói quen tập nghĩ đến sự hiện diện của Chúa. Thinh lặng nội tâm biểu hiện của linh hồn tìm kiếm mọi sự nơi Thiên Chúa và hoàn toàn quy hướng về Ngài.
                       ii.     Lắng nghe và xét mình
Biết lắng nghe là điều cần thiết để có thể có được những cơ sở cho sự phân định. Nếu không biết lắng nghe, thì đâu còn chỗ cho Thánh Thần hoạt động nữa? Thánh Phao-lô dạy: phải tôn trọng sự hoạt động tự do của Thần Khí. Chớ khinh thường ơn nói tiên tri mà phải biết cân nhắc cẩn thận và sẵn lòng đón nhận.
[8] Trong thư gửi giáo đoàn Cô-rin-tô, ngài đã hướng dẫn rằng: “chỉ nên có hai ba người lên tiếng thôi, còn những người khác thì phân định.[9] Đặc biệt khi thấy một thần khí thúc đẩy ta làm điều gì mà gặp phải sự bất thuận hay cản trở của cộng đoàn thì cần phải xét lại mình để xem đó có phải Thần Khí của Thiên Chúa hay không.[10]
Xét mình là việc cần thiết cho kẻ khát khao tìm chân lý, đặc biệt cho những người giữ vai trò đồng hành thiêng liêng. Vì thế có tác giả đã khẳng định: Không ai có thể tự hào giúp đỡ kẻ khác biết phân định thần khí mà không tự kiểm điểm chính mình.[11]
Và muốn có được hiệu quả tốt, ta phải tôn trọng sự phán quyết của lương tâm không chỉ vì chức năng của nó là phán đoán và biện phân[12] và còn vì Giáo hội xác nhận lương tâm là tiếng Chúa nơi sâu thẳm nhất của mỗi người chúng ta.[13]
2.         Đời sống Đức tin
a.    Cầu nguyện
Yếu tố quan trọng nhất trong việc đào tạo thiêng liêng là cầu nguyện, vì việc cầu nguyện nuôi dưỡng đời sống thiêng liêng; cầu nguyện là dấu hiệu sự sống trong đời sống thiêng liêng. Do đó việc huấn luyện cầu nguyện, vốn là cách biểu lộ đặc biệt đức tin và đức cậy của chúng ta nơi Chúa, sẽ không bao giờ kết thúc.
[14]
Kinh nghiệm cho thấy việc cầu nguyện thường gặp rất nhiều khó khăn. Bởi vậy, để khỏi chán nản và thối lui hay bê trễ việc cầu nguyện, ta cần tập luyện liên lỉ để có thể vượt qua những khó khăn và tập đức kiên trì trong đời sống cầu nguyện.
Cầu nguyện không chỉ toàn những kinh nghiệm vui mừng và thích thú. Khô khan và tăm tối cũng là một phần thiết yếu trong quá trình trưởng thành và biến đổi. Chỉ có lòng khiêm tốn và sự cởi mở với ơn Chúa, con người mới có thể đương đầu với tính kiêu căng, tự mãn và tất cả sức kháng cự tiềm ẩn của nó.
[15]
b.    Sống Đức tin cách sống động
Sống đức tin một cách sống động không chỉ đơn thuần là kết quả phía sau thành công của một quá trình thao luyện đời sống thiêng liêng và đức tin, mà chính nó cũng là một yếu tố góp phần thúc đẩy đời sống đức tin mỗi ngày một mạnh mẽ và sinh động hơn.
Vậy làm sao để sống đức tin một cách sống động? Tác giả René Bernard cho rằng: Cần phải có cái nhìn của con người có niềm tin. Cố gắng nhìn mọi sự như Thiên Chúa nhìn, trong trật tự của Thiên Chúa.
[16] Nói cách chung là để cho ánh sáng của đức tin chiếu sáng trên tất cả mọi hoạt động của ta.
Giáo hội Công giáo đã chỉ dẫn rất nhiều phương cách cho con cái mình sống đức tin. Mà điều đầu tiên phải nói đến là việc sống đúng giáo huấn của Hội Thánh. Điều này sẽ giúp chúng ta sống đức tin một cách linh động mà không sợ rơi vào sai lạc.
Nhưng nếu chỉ dừng lại ở đó thì dễ xảy ra nguy cơ dập khuôn và ù lì trong những giới hạn chỉ nhằm đảm bảo sự an toàn tối đa, mà đôi khi trở thành bảo thủ. Chúng ta còn cần phải mở rộng tâm hồn với Thánh Linh để có thể đón nhận những làn gió mới, làm cho đức tin được sống động hơn và phù hợp hơn với sự trợ giúp của chính Thiên Chúa. Tuy nhiên, động thái này có nhiều nguy cơ lạc lối, bởi vậy ta cần kiên trì và cẩn trọng trong tìm kiếm Thánh Ý Chúa. Nhạy bén trong việc nhận biết thần khí của Thiên Chúa qua việc quy hướng về Đức Ki-tô.
[17]
3.       Tương quan mật thiết với Chúa
a.    Chiêm niệm
Chiêm niệm là đặt mình trước mặt Chúa. Khi đó cuộc sống tương giao với Thiên Chúa giống như những đứa con đang ở trong gia đình với cha mẹ mình. Dù có thể không giao tiếp, không có những câu chuyện lâm li hay rôm rả thì người đó vẫn đang thực sự ở trong gia đình và có thể nói chuyện với cha mẹ hay lãnh biết ý các ngài bất cứ lúc nào. Con người sống trong chiêm niệm cũng có được mối tương quan với Chúa cách mật thiết như vậy.
Chính nơi tình thân mật này mà chúng ta sẽ tìm được bí quyết của một sự chấp nhận vô điều kiện những sự can thiệp của Ngài. Những sự chấp nhận này sẽ là hoa trái của lòng chúng ta kiên nhẫn chăm chú tìm gặp lại Ngài và sống với Ngài.
[18] Và đây trở thành cơ hội cho Thánh Thần Chúa làm việc nơi chúng ta.
b.    Các kinh nghiệm tâm linh
Kinh nghiệm tâm linh là một tài sản vô cùng quý giá trong lãnh vực phân định thiêng liêng. Thiết nghĩ, trong những trường hợp thiếu khuyết hay hạn chế về kiến thức hay kỹ năng phân định, thì người có kinh nghiệm thiêng liêng phong phú vẫn có thể bù đắp lại để có được kết quả.
Kinh nghiệm thiêng liêng có thể có được từ đời sống tâm linh cá nhân như cầu nguyện, chiến đấu thiêng liêng hay kể cả từ việc học hỏi kinh nghiệm của người khác.
[19]
Giữa đời, ta có biết bao nhiêu là thứ trải nghiệm tốt xấu. Vì vậy cần lưu tâm đến những tiêu chuẩn để nhận biết đâu là kinh nghiệm chân thật về Thiên Chúa chứ không phải sự man trá của giác quan hay tâm lý. Việc này đòi chúng ta phải dựa trên cảm nghiệm về niềm vui và tình yêu của chính mình.
 
 
4.  Những phương thức cầu nguyện phù hợp
a.    Cầu nguyện chung
Cầu nguyện chung là hình thức thờ phượng chung với cộng đoàn; bao gồm Thánh lễ, các giờ phụng vụ và các giờ cầu nguyện cùng với cộng đoàn. Chúng ta cần tìm hiểu và thực hành cách chu đáo để hiểu rõ sự phong phú và cảm nghiệm được ý nghĩa của việc thực hành này, ngõ hầu nó được đảm nhận như một bổn phận quan trọng trong sự hiểu biết và xác tín.
b.    Cầu nguyện riêng
Việc cầu nguyện riêng của mỗi cá nhân là một thực hành thiêng liêng cần thiết cho đời sống đức tin để có được một tương quan sâu xa với Chúa. Các hình thức cụ thể thông dụng thường được biết đến như suy niệm lời Chúa Lectio Divina, nguyện gẫm, hồi tâm xét mình…
Một điều cần nhớ khi thực hành cầu nguyện riêng là không được bi quan và chán nản trước những khó khăn gặp phải khi cầu nguyện. Trong cầu nguyện cá nhân, đặc biệt là cầu nguyện thinh lặng và suy gẫm trong tâm trí, nhiều sự chia trí lấn chiếm đầu óc và cản trở cầu nguyện. Nhiều khi ta kết thúc giờ cầu nguyện với sự khô khan trống rỗng, quên đi rằng nếu tinh thần có đi đâu thì thân xác vẫn luôn ở trước mặt Chúa.
[20]
c.     Môi trường và phương tiện giúp cầu nguyện
Dù cầu nguyện chung hay riêng, chúng ta cần phải có những điều kiện tốt cho việc cầu nguyện thì mới có được những giờ cầu nguyện sốt sắng và xứng đáng. Ở đây tập trung lưu ý đến sự cần thiết của môi trường cầu nguyện và các phương tiện trợ giúp cho cầu nguyện như không gian dễ cầu nguyện, những thời gian thích hợp và các tài liệu hướng dẫn như sách thiêng liêng, những phương pháp cầu nguyện phù hợp…
III.        Trau dồi tri thức
Dù việc phân định thần khí nằm trong lãnh vực của đời sống thiêng liêng, nhưng việc trau dồi để có một vốn kiến thức nền tảng đầy đủ là việc không thể bỏ qua. Trong đời sống con người, các yếu tố vật chất, tinh thần và thiêng liêng tuy có thể phân biệt nhưng không thể tách rời. Tất cả đều có liên quan và tác động tương hỗ cho nhau. Thực sự khó và có thể nói là không tưởng nếu chúng ta đòi một ai đó tốt về nhân bản, thuần thục về thiêng liêng mà lại chẳng có chút hiểu biết nào cả.
Tuy không đòi hỏi ở trình độ cao, nhưng để có thể phân định tốt trong lãnh vực thiêng liêng, đặc biệt là việc phân định thần khí thì ít nhất ta cũng phải nắm những kiến thức căn bản về xã hội, về Giáo hội: Thánh Kinh, Thánh Truyền, Thần học căn bản…
1.        Nắm vững kiến thức xã hội căn bản
Theo chương trình đào tạo bình thường, học hết chương trình căn bản ở các lớp phổ thông là ta đã có được những kiến thức nền tảng khá phong phú trong nhiều lĩnh vực sống. Có những kiến thức chẳng bao giờ ta dùng đến một cách chuyên biệt cho việc mưu sinh, nhưng thực tế nó thường xuyên hỗ giúp ta trong việc nhận thức các kiến thức khác, hay nhận định các vấn đề khác dù để ý hay không để ý. Có kiến thức nền tảng tốt là một điều kiện thiết yếu để có thể phán đoán chính xác. Tuy vậy, nhưng ta không đánh đồng tầm quan trọng các chuyên môn trong việc giúp ta phán đoán. Thường nên lưu ý hơn đến các khoa nhân văn. Thực tế cho thấy: những hiểu biết về tâm lý giúp ích nhiều cho việc phân định thiêng liêng.
[21]
2.        Tìm hiểu Thánh Kinh và các Truyền thống
Các nhà linh hướng nhất loạt khuyên lấy Thánh Kinh làm nguồn cầu nguyện cá nhân. Tuy nhiên, cần có hiểu biết về việc chú giải để có thể hiểu các sách và các bản văn Thánh Kinh theo ý nghĩa nguyên thủy của nó.
[22] Việc học hỏi Thánh Kinh và Thánh truyền cho ta những kinh nghiệm quý báu và một nền tảng vững vàng trong việc thực hành đời sống thiêng liêng nói chung và việc phân định thần khí nói riêng.
3.        Học hỏi Thần học và các giáo huấn của Giáo hội
Thực tế không đến mức đòi hỏi mỗi người phải là nhà chuyên môn về thần học. Nhưng tối thiểu, ta cần có nền tảng thần học căn bản để có đủ khả năng nhận thức những phát biểu tín lý đã lệ thuộc văn hóa hay triết học đến mức nào.
[23]
Hiểu biết những kinh nghiệm thiêng liêng khác nhau của Ki-tô Giáo và biết cởi mở đón tiếp những kinh nghiệm ngoài Ki-tô Giáo cũng giúp ta vượt qua được những xác tín quá cực đoan của mình và biết thán phục những kinh nghiệm đa dạng của nhân loại về Thiên Chúa.[24]
4.        Yêu chuộng đức khôn ngoan
Đức khôn ngoan thuộc trí tuệ hay lý trí và khôn ngoan có nhiệm vụ quan sát, nhận định, phê phán mọi hành vi của con nguời, đối chiếu với những hoàn cảnh cụ thể của hành vi với những nguyên tắc tự nhiên và siêu nhiên của chân - thiện - mỹ.
Cicero trình bày đức khôn ngoan như là sự khéo léo, sắc bén trong việc tìm kiếm chân lý nên trước tiên nó là một phẩm chất trí tuệ, đồng thời cũng là biết phân biệt điều cần tìm kiếm và điều phải tránh. Tức là khôn ngoan là phẩm chất trí tuệ của một lý trí thực tiễn hướng về hành động. Đó là phẩm chất của người nhìn xa trông rộng, phản ánh trong tâm hồn con người một tầm nhìn thần linh.
[25] Đức khôn ngoan giúp cân nhắc, lựa chọn và chỉ dẫn suốt quá trình hành động. Để đức khôn ngoan được sắc bén và hoạt động hiệu quả cần có kinh nghiệm và kiến thức và một lương tâm ngay chính.
Tóm Kết
Xét cho đến cùng, đời sống thiêng liêng thuộc về mỗi cá nhân. Ngoài Chúa ra, chẳng ai hiểu mình hơn chính mình. Do vậy việc tự đào tạo là cần thiết và tối quan trọng trong quá trình thao luyện thiêng liêng của mỗi người. Việc tự đào tạo khả năng phân định thần khí cũng mang những ý nghĩa đó. Tự mình đào luyện, con người sẽ thấy rõ được chính mình để phát huy điểm mạnh, khắc phục điểm yếu. Và quan trọng hơn là thành công của việc tự đào tạo đem đến cho con người một khả năng bền vững vì nó được uốn nắn phù hợp với từng cá nhân theo những đặc thù riêng biệt.
Việc phân định thần khí là một việc trọng yếu trong tiến trình phân định thiêng liêng. Vì vậy cần có sự huấn luyện chu đáo, đầy đủ để có được kết quả tốt. Để được như vậy, việc tự đào tạo khả năng phân định tuy là căn bản nhưng là cần thiết và có một giá trị đặc biệt trong suốt hành trình đời sống thiêng liêng, tinh thần và kể cả vật chất nữa.
Việc tập trung thực hành những nhân đức và các kĩ năng trong quá trình tự huấn luyện này không bỏ qua sự lưu ý và cảnh giác những yếu tố tác động từ ngoại tại gây ảnh hưởng sự đào luyện hay chính khả năng phân định của mỗi người. Bởi thế, mỗi người cần nhận thức rõ để có được những hiệu quả tốt và phù hợp với ý định của Thần Khí Thánh.
 

[1] René Bernard, p.s.s.c, Đào tạo về sự biện biệt, tr 12.
[2] Trần Minh Huy, Đào tạo và tự đào tạo thiêng liêng của các linh mục tương lai trong bối cảnh Việt nam hiện nay, tr 191.
[3] René Bernard, p.s.s.c, Đào tạo về sự biện biệt, tr 28.
[4] 1 Ga 4, 1.
[5] 1 Cr 12, 10.
[6] John Paul II, Tông huấn Pastores Dabo Vobis, số 47.
[7] Trần Minh Huy, Đào tạo và tự đào tạo thiêng liêng của các linh mục tương lai trong bối cảnh Việt nam hiện nay, tr 201.
[8] 1 Tx 5, 19-22.
[9] 1 Cr 14, 29.
[10] 2 Cr 13, 5.
[11] Phạm Quốc Văn, Tự đào tạo và đào tạo khả năng phân định, tr 24.
[12] Ibid, tr 11.
[13] Giáo lý HTCG, số 1776.
[14] Trần Minh Huy, Đào tạo và tự đào tạo thiêng liêng của các linh mục tương lai trong bối cảnh Việt nam hiện nay, tr 194.
[15] Ibid, tr 214.
[16] René Bernard, p.s.s.c, Đào tạo về sự biện biệt, tr 29.
[17] 1 Ga 4, 2-3.
[18] L.J. Callens O.P., Mầu nhiệm sống mật thiết với Thiên Chúa, tr 24.
[19] Phạm Quốc Văn, Trên Đường Emmaus, NXB Tôn Giáo, 2009, tr 160-161.
[20] Trần Minh Huy, Đào tạo và tự đào tạo thiêng liêng của các linh mục tương lai trong bối cảnh Việt nam hiện nay, tr 210.
[21] W. A. Barry, W. J. Connolly, Tập Làm Linh Hướng, tr 214.
[22] W. A. Barry, W. J. Connolly, Tập Làm Linh Hướng, tr 212.
[23] W. A. Barry, W. J. Connolly, Tập Làm Linh Hướng, tr 213.
[24] Ibid, tr 214.
[25] Phạm Quốc Văn, Tự đào tạo và đào tạo khả năng phân định, tr 28-29.
 


THƯ MỤC THAM KHẢO
Thánh Kinh Tân Ước, bản dịch của Nhóm GKPV, NXB Tôn Giáo, 2008.
Sách Giáo lý Hội Thánh Công Giáo.
John Paul II, Tông huấn Pastores Dabo Vobis,1992.
L.J. Callens O.P., Mầu nhiệm sống mật thiết với Thiên Chúa, không đề dịch giả, năm xuất bản.
Phạm Quốc Văn, Trên Đường Emmaus, NXB Tôn Giáo, 2009.
Phạm Quốc Văn, Tự đào tạo và đào tạo khả năng phân định, Lưu hành nội bộ, 2013.
René Bernard, p.s.s.c, Đào tạo về sự biện biệt.
Terri Escalante, MD, Biện Phân Thần Khí, bản dịch của Kim Loan Mai, không rõ năm xuất bản.
Trần Minh Huy, Đào tạo và tự đào tạo thiêng liêng của các linh mục tương lai trong bối cảnh Việt nam hiện nay, Đại Chủng Viện Huế, 2006.
 W. A. Barry - W. J. Connolly, The practice of spiritual direction, Seabury Press, 1982. Bản dịch Tiếng Việt: Tập Làm Linh Hướng, không đề dịch giả, năm xuất bản.
 
 

Tác giả bài viết: Tu sĩ Vinh Sơn Trần Văn Duy, CSC

Nguồn tin: TTTN

  Ý kiến bạn đọc

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

Tin mới
Bài đọc nhiều