Dòng Thánh Tâm Huế, Việt Nam Online

Vai Trò của Đối Thoại Trong Phân Định Thần Khí

Thứ hai - 27/01/2014 17:08
CSC Online -

VAI TRÒ CỦA ĐỐI THOẠI TRONG PHÂN ĐỊNH THẦN KHÍ

 
Dẫn nhập
Sinh ra trong trần gian, mỗi người, bằng cách này hay cách khác, đều phải tham gia vào dòng chảy chung của xã hội. Với sự phân công xã hội, mỗi người có một chỗ đứng, một vai trò riêng và đều phải cố gắng hoàn thành vai trò đó. Khi xác định được vị trí và vai trò của mình, người ta sẽ dễ dàng chu toàn bổn phận hơn. Cũng vậy, trong việc đồng hành thiêng liêng hay còn gọi là việc linh hướng, để giúp nhau đạt tới sự hoàn thiện là gặp gỡ chính Chúa, cả người đồng hành và người thụ hướng đều phải xác định cho mình những bổn phận cần thi hành.
Có thể nói, đồng hành thiêng liêng “Là một khoa học và một nghệ thuật dẫn dắt các tâm hồn, đạt đến sự hoàn hảo theo ơn gọi riêng của từng cá nhân. Gọi là khoa học, vì nó thực sự dựa trên những nguyên tắc rút ra từ luân lý thần học và tu đức đem áp dụng vào những trường hợp riêng biệt. Nhưng nó cũng là một nghệ thuật thực sự, là một tập quán đạo đức, một công trình ân sủng, một hoạt động của Chúa Thánh Thần, nhắm lợi ích thiêng liêng cho người khác.”
[1] Đồng hành thiêng liêng bao hàm trong đó quá trình trao đổi, chuyện trò giữa hai cá thể.
Mục đích việc đối thoại trong việc đồng hành thiêng liêng không chỉ dừng lại ở việc giải quyết những khó khăn tạm thời do người thụ hướng đặt ra, hay là đưa ra vài lời khuyên nhủ từ phía người hướng dẫn, mà còn hướng tới một sự thay đổi tận căn nơi người thụ hướng. Do đó, việc đối thoại trong đồng hành thiêng liêng đóng vai trò quan trọng trong phân định thần khí. Hiệu quả của việc đồng hành thiêng liêng tùy thuộc rất nhiều vào phẩm chất của mối tương quan giữa người đồng hành và người thụ hướng. Phẩm chất của mối tương quan đó được phản ảnh trong cuộc đối thoại được thực hiên giữa hai người.
I. Vai trò của đối thoại trong phân định thần khí
Trong thế giới ngày nay, đối thoại đang trở thành vấn đề thời thượng, một cách thế sống và một lối giải quyết những vấn đề phức tạp trong đời thường cũng như trong đời sống kinh tế, chính trị. Có thể nói đây là một trong những thành công lớn của xã hội khi quyết định dùng trí tuệ thay thế cho bạo lực và bom đạn khi giải quyết một cách hữu tình, hữu lý những tranh chấp, xung đột, những bất đồng trong quan điểm… Việc đối thoại giữa các cá nhân trong xã hội là một nhu cầu xã hội cơ bản. Trong các mối tương quan liên nhân vị, đặc biệt trong đồng hành thiêng liêng, thì việc gặp gỡ, trao đổi đóng vai trò rất quan trọng.
1. Đối thoại - nền tảng của phân định thần khí
Giao tiếp hay đối thoại là sử dụng ngôn ngữ để nói cùng và với người khác. Đây không phải là nói suông, độc thoại hay nói nhằm thóa mạ, vu khống, lấn lướt người khác. Trái lại, đối thoại ở đây phải là nhịp cầu – bằng biểu tượng, hành động hoặc tâm linh – nối kết tha nhân, giúp lấp đầy khoảng trống và hố ngăn cách giữa người đồng hành và người thụ hướng.
 “Toàn bộ truyền thống đều đồng thanh nhất trí về điểm này: sự đồng hành thiêng liêng đặt nền tảng trên một cuộc đối thoại. Trong vùng sa mạc Ai Cập, các đan sĩ đi thăm viếng nhau chỉ đặt với nhau một câu hỏi duy nhất bất di bất dịch: Làm sao để được cứu độ? Cha hãy ban cho con một lời.”
[2]
Việc đối thoại trong phân định thần khí là một lối thực hành khá phổ biến trong đời sống của các đan sĩ thời xưa. Chẳng hạn, trong đời sống đan tu nơi Giáo hội Đông Phương thuở xưa, hằng ngày họ phải tới gặp cha linh hồn của mình để dãi bày tư tưởng cũng như ước muốn. Cuộc gặp gỡ này có thể mất vài phút. Đây không phải là việc xưng thú tội lỗi cho bằng bộc bạch những việc xảy ra trong ngày, tốt cũng như xấu. Chính sự chia sẻ trong cuộc đối thoại ngắn ngủi này mang lại tâm trạng an bình cho người đan sĩ.
Đối thoại được áp dụng trong phân định thần khí để thông truyền tư tưởng từ cả hai phía: nhà linh hướng và người thụ hướng. Người thụ hướng trình bày cho người đồng hành những ưu tư của mình. Qua những lần gặp gỡ, đối thoại nhà linh hướng cũng hiểu được phần nào về cá tính, sở thích, nghị lực, những vấn đề lương tâm cũng như khuynh hướng nội tại nơi người thụ hướng đối với những điều thiện hay điều ác và đưa ra những định hướng cho thụ nhân. Không có đối thoại qua lại, cả hai phía sẽ không hiểu nhau, như vậy việc gặp gỡ sẽ trở nên vô nghĩa, hay thuần túy chỉ là cuộc gặp gỡ xã giao.
Tự bản chất, con người là hữu thể hướng tới tha nhân. Vì vậy, “Đối thoại là phương thức hiện hữu trong tương quan với tất cả mọi sự, phương thức cho phép chính mình và người khác mỗi người thực sự là chính mình, trong sự tự do và sự thật hoàn toàn.”
[3] Đối thoại có vai trò quan trọng không chỉ trong phân định thần khí mà còn trong toàn bộ cuộc sống của con người. Phải nhớ rằng, việc phân định thần khí được thực hiện nhờ đối thoại, qua đối thoại và hoa trái của nó là sự cứu độ con người.
2. Đối thoại giúp truyền thông tư tưởng nhanh nhất
“Chúng ta có thể hiểu nôm na đồng hành thiêng liêng là việc gặp gỡ đối thoại thân thiện giữa hai người trong mối tương quan ngôi vị, để cùng giúp nhau đạt đến sự tự do của con cái Chúa, sự hoàn thiện Ki-tô giáo, thông qua việc lắng nghe, phân định, và đặc biệt là cùng nhau cầu nguyện.”
[4] Nhiều triết gia thời cổ đại sử dụng đối thoại như một phương pháp truyền đạt kiến thức cho môn sinh của mình. Nội dung và hình thức của đối thoại vì vậy rất phong phú và cực kỳ đa diện. Chẳng hạn Socrate và Platon coi đối thoại là một phương thức truy tầm chân lý qua việc trao đổi và đối chất về tư tưởng. Socrate sử dụng đối thoại như một đường hướng triết lý giáo dục để chuyển đạt tư tưởng cho người khác.
Đối thoại chính là sự chia sẻ thông tin và tạo mối quan hệ, hiện tượng này chỉ có ở xã hội loài người. Trên bình diện đồng hành thiêng liêng, đối thoại được hiểu là sự tiếp xúc giữa con người với con người và là hành động xác lập mối quan hệ nhằm thoả mãn nhu cầu nhất định về thông tin. Qua đó, đôi bên thu nhận thông tin, tương tác lẫn nhau để cùng hiểu biết về một tình huống. Nhờ có cùng tiếng nói, cùng mục tiêu mà cả người thụ hướng lẫn người hướng dẫn thu được lợi ích nhiều nhất có thể.
Trong đồng hành thiêng liêng, ngoài những hình thức đồng hành qua thư từ, email, điện thoại thì việc đối thoại trực tiếp là phương pháp giúp chuyển đạt tư tưởng và kiến thức nhanh nhất. Người đồng hành lắng nghe những biến động trong tâm hồn của thụ nhân và trực tiếp hỏi lại những điều chưa rõ ngay lúc đó. Nhờ ngôn ngữ đối thoại, đương sự trực tiếp bày tỏ những vấn đề lương tâm hay những khó khăn và trở ngại riêng cho vị linh hướng mà không cần qua bất kỳ phương tiện nào khác. Nhà linh hướng phải biết cách đối thoại để người được hướng dẫn dễ dàng và chân thành cởi mở tâm hồn để bày tỏ tất cả con người mình. Ở đây, nhà linh hướng cần biết lắng nghe nhiều hơn là nói. Chỉ khi cần, ngài mới nói suy nghĩ của mình, còn lại để thời gian cho thụ nhân tự trải lòng mình rồi giúp thụ nhân phân tích và quyết định.
Khi trao đổi qua lại, ngôn ngữ đi theo hai chiều hỗ tương. Do vậy, cả hai bên cần chấp nhận ý nghĩa của ngôn từ và tính khả tri của nó. Ngôn ngữ thông thường là qui ước xã hội, đặt nền tảng cho mọi cuộc đối thoại. Dĩ nhiên ngôn ngữ có những giới hạn tất yếu của nó, nhưng điều này không ảnh hướng nhiều tới cuộc đối thoại thiêng liêng.
Các hình thức giao tiếp như viết, nói hay các hình thức khác đều bị chi phối bởi giọng điệu của người truyền đạt thông điệp, tính căn cứ của lý luận, những gì được giao tiếp và những gì không nên được đưa vào, cũng như phong cách giao tiếp riêng của mỗi người. Dù chúng ta đứng ở góc độ nào, mục đích nghiên cứu nào, khi đưa ra những quan niệm về “giao tiếp”, các quan niệm đều có những điểm chung nhất thuộc về bản chất của giao tiếp. Giao tiếp là một quá trình truyền đi một thông điệp, nó bao gồm một người gửi và một hay nhiều người nhận. Thông điệp là ý tưởng đã được mã hoá để người phát tin (giao tiếp) và người nhận. Theo quan niệm này, giao tiếp là một quá trình dựa trên sự trao đổi giữa hai hay nhiều người sử dụng một mã cử chỉ, từ ngữ để có thể hiểu được một thông tin chính thức hay phi chính thức được chuyển từ người phát tin đến người nhận tin.
Giao tiếp là một cuộc đối thoại hai chiều, quá trình đối thoại làm thay đổi cả người gửi lẫn người nhận (tức là có sự chia sẻ thông tin, hai bên cùng điều chỉnh mục tiêu, điều chỉnh hành vi qua sự tác động lẫn nhau để cùng hiểu biết về tình huống; nhờ có cùng tiếng nói, mà hai bên thu được lợi ích nhiều nhất có thể). Ngoài ra, sự cảm nghiệm tâm linh và thần bí luôn vượt trên mọi thứ ngôn ngữ và có khả năng dẫn đưa con người đến chỗ kết hợp sâu xa với Thực Tại Siêu Việt.
3. Người đồng hành và người thụ hướng trực tiếp đối diện với vấn đề
Sau khi phân định những tư tưởng, khuynh hướng và hành động đã làm, hoặc hành động lặp đi lặp lại của người thụ hướng, vị linh hướng có thể đưa ra phán đoán xem chúng xuất phát từ Thần Khí Thiên Chúa, từ thần khí của ma quỷ, hay từ thần khí của cá nhận đó.
[5] Cả hai bên cùng suy nghĩ về các vấn đề mà người thụ hướng vừa đưa ra.
Nhà linh hướng sẽ giúp đương sự nhìn kỹ, cảm nghiệm thực tế về những gì họ đang trải qua, nhìn ra sự thật của cuộc đời, để rồi đo lường đúng mức với những ước vọng nơi mình. Người hướng dẫn cần đưa ra nhiều giải pháp để đối tượng giao tiếp có thể chọn lựa và quyết định. Vấn đề ở đây là cả hai bên tham gia đối thoại cùng tìm cách xử lý vấn đề như thế nào để không chỉ thỏa mãn một phần hoặc toàn bộ ước vọng của mọi đối tượng giao tiếp mà còn phải làm cho đối tượng giao tiếp hiểu và chấp nhận thực tế.
Nhờ việc đối thoại nhà linh hướng có thể biết được những ảnh hưởng chống lại sự tác động của Thánh Linh nơi người thụ hướng. Từ đó, nhà linh hướng giúp người đối thoại phát triển mối quan hệ với Thiên Chúa. Chúa Thánh Thần là nguồi gốc phát sinh những ước vọng nơi thụ hướng sinh và giúp họ phát triển đời sống tâm linh. 
Đối thoại thiêng liêng không phải là chụp lên đầu thụ nhân những quan niệm tiền chế, nhét vào óc họ những tri thức khách quan, mà là khai mở, soi sáng, hướng dẫn, giúp đỡ... hầu làm triển nở chân lý tiềm ẩn nơi họ. Đây là một hành trình chung giữa hai bên chứ không phải của riêng người thụ hướng hoặc người linh hướng.
Tuy nhiên, trong quá trình giao tiếp, người hướng dẫn có thể đưa ra một số giải pháp để đối tượng giao tiếp có thể chọn lựa và quyết định. Muốn đưa ra các giải pháp và lựa chon giải pháp phù hợp thì cả hai bên phải xác định mục đích của cuộc đối thoại và mức độ có thể đạt được cấp độ nào (cao, trung bình hay thấp). Việc xác định những mức độ có thể đạt được sẽ giúp cho các đối tượng tham gia giao tiếp chuẩn bị sẵn sàng tư tưởng trong điều kiện và giới hạn cho phép để có thể thương lượng với bên kia khi các điều kiện, tiêu chuẩn lý tưởng không đạt được. Cả hai bên cùng suy nghĩ để đạt mục đích tối ưu có thể.
Khi giao tiếp các bên tuân thủ nguyên tắc này, sẽ dễ dàng tìm thấy những mục tiêu và lợi ích chung, để rồi cùng nhau tìm ra những giải pháp có thể làm hài lòng tất cả các bên.
4. Cùng cảm thông, chia sẻ và nhận diện vấn đề
Dưới cái nhìn của ông tổ triết học Tây phương, đối thoại là thái độ dấn thân kiếm tìm chân lý, xây dựng niềm cảm thông giữa người với người. Theo Socrate, sứ mệnh của giáo dục là soi sáng và hướng dẫn, chứ không phải truyền đạt kiến thức một cách máy móc cho người khác.
Trong cuộc sống, mỗi con người có rất nhiều tâm tư, tình cảm cần được chia sẻ. Có những điều chỉ khi chia sẻ với ai đó mới thấy thanh thản. Lúc này vai trò người lắng nghe không phải là thu nhận thông tin hay gì khác mà chính là giúp cho người nói vượt qua những trắc ẩn, lo âu, băn khoăn của cuộc sống. Với một thái độ tôn trọng, đồng cảm, đáng tin cậy, người thụ hướng có thể chia sẻ với người linh hướng những điều mà họ ấp ủ bấy lâu. Qua những tâm sự, hướng dẫn sẽ dần hiểu ra vấn đề và đặt câu hỏi để người thụ hướng có thể tự rút ra được giải pháp hay tìm được lối thoát cho mình. Để lắng nghe đồng cảm, nhà linh hướng phải biết lắng nghe mà không phán xét, không thành kiến. Điều đó sẽ giúp họ dễ dàng tâm sự và bày tỏ quan điểm.
Việc giao tiếp hiệu quả luôn đòi hỏi phải vượt thắng cảm xúc, thiên kiến, tập quán để bình thản đặt vấn đề, kiên nhẫn lắng nghe và sáng suốt lãnh hội quan điểm của người đối thoại. Đối thoại luôn bao hàm thái độ dấn thân và chấp nhận thách đố. Nó đòi hỏi người đối thoại phải ra khỏi tháp ngà định kiến và can đảm sửa đổi chính quan điểm và cuộc sống của mình. Người đối thoại chân thành là người dám chấp nhận đặt lại ngay cả những xác tín của riêng mình, dám biến đổi chính cuộc sống hay cách thế sống. Như vậy, một cuộc đối thoại đúng nghĩa không loại trừ khả năng thay đổi cuộc đời của người thụ hướng đưa tới sự ăn năn hoán cải.
Vị linh hướng phải nhận định cách chính xác những hoàn cảnh cụ thể của một tình huống nhất định và đưa ra lời khuyên cần thiết cho lúc đó. Để có được lời khuyên khôn ngoan, vị linh hướng phải biết đồng cảm, để đặt mình vào hoàn cảnh của người được hướng dẫn, và ngài phải chăm chú lắng nghe.
[6]
Tóm lại, hoạt động giao tiếp được thực hiện theo nguyên tắc là sự giao tiếp phải được thực hiện trong sự thông cảm, thống nhất với nhau chứ không phải dưới hình thức tranh đua, đối địch… Sự thành công của giao tiếp không phải là ở sự chiến thắng đối tượng mà là sự đem lại lợi ích càng nhiều càng tốt cho cả hai bên.
II. Vài điều cần tránh trong cuộc đối thoại
Mục đích của việc đối thoại trong đồng hành thiêng liêng là giúp người thụ hướng nhận ra ý Chúa muốn nơi họ. Vì vậy, ngoài việc giúp người thụ hướng cởi mở tâm hồn với Chúa và vượt lên những vấn đề họ đang gặp phải, vị linh hướng cũng như người thụ hướng cần phải biết và tránh những vấn đề tiêu cực có thể nảy sinh trong quá trình gặp gỡ, trao đổi.
1. Tình cảm riêng
Đối thoại trong đồng hành thiêng bao gồm việc tiếp xúc giữa hai ngôi vị. Quá trình này có thể kéo dài. Điều này dẫn tới sự gần gũi giữa người đồng hành và người thụ hướng. Trong cuộc tiếp xúc, chuyện trò, đôi bên dễ đi tới việc quan tâm các vấn đề riêng tư của nhau như gia đình, nghề nghiệp, công việc, thậm chí cả chuyện đời tư… Tuy đó là những chuyện bình thường và chính đáng, nhưng lại dễ gây tình cảm riêng giữa hai người. Tình cảm này có thể là yêu hoặc ghét.
Tình cảm có thể nảy sinh từ phía người thụ hướng hoặc nhà linh hướng, hoặc đi xa hơn nữa là từ cả hai phía. Dù thế nào đi nữa tình cảm nảy sinh trong việc linh hướng đều làm cho việc đối thoại không mang lại ích lợi gì cho người thụ hướng, nếu không nói là nguy hại cho cả hai phía. Trong trường hợp thứ ba, tốt nhất là cả hai hãy ngừng cuộc đối thoại và chờ đợi khi nào tư tưởng đôi bên trở nên tốt lành, bằng không người thụ hướng hãy tìm gặp nhà linh hướng khác.
Để tránh điều này, người thụ hướng và người linh hướng cần tạo sự cân bằng và khoảng trong suốt cuộc đối thoại cũng như trong cả quá trình đồng hành. Khoảng cách này sẽ giúp cho đôi bên phát triển tương quan một cách tự do, không bị lệ thuộc vào tình cảm chủ quan, cũng như không đi lạc mục đích của cuộc đối thoại thiêng liêng. Thật “không dễ gì mô tả một con đường trung dung hay tìm ra một con đường dung hòa trong một hoàn cảnh nhất định nào đó.”
[7]
Trong các cuộc đối thoại, cả người linh hướng lẫn người thụ hướng phải minh bạch trong tình cảm của mình. Bởi vì, tình cảm riêng sẽ chi phối việc cầu nguyện cũng như làm cho hai bên mất tự do trong đối thoại. Bị tình cảm chi phối, nhà linh hướng sẽ bị rối loạn tinh thần, không còn sáng suốt để đưa ra những hướng dẫn rõ ràng, cụ thể mà thiên về sự ích kỷ cá nhân, thậm chí đưa ra những chỉ dẫn hoàn toàn sai lạc nhằm đạt mục đích riêng tư của mình.
Vị linh hướng nên yêu mến các linh hồn một cách vô vị lợi. Nghĩa là ngài không tìm hướng dẫn họ để tự thỏa mãn hay vì niềm an ủi từ nơi họ, nhưng chỉ đơn thuần và duy nhất là dẫn dưa họ đến với Thiên Chúa. Thánh Au-gus-ti-nô nhấn mạnh rằng: những người dẫn dắt đàn chiên của Đức Ki-tô như là đàn chiên của riêng họ chứ không phải của Đức Ki-tô, chứng tỏ rằng họ yêu chính mình chứ không phải yêu Chúa. Bằng tình yêu vô vị lợi, vị linh hướng sẽ ngăn ngừa được nhiều cám dỗ về tính kiêu ngạo và những tình cảm lệch lạc, ngài sẽ tôn trọng tự do của những linh hồn ngài hướng dẫn.
[8] Ngược lại, người được hướng dẫn cũng phải nhìn thấy nơi người đồng hành của mình hình ảnh Đức Ki-tô và chỉ hỏi ý kiến ngài khi cần thiết, đồng thời tránh mọi sự biểu lộ tình cảm tự nhiên của con người. Chỉ có như thế, việc đối thoại giữa hai bên mới thực sự mang lại hiệu quả siêu nhiên đích thực cho người thụ hướng.
2. Xét đoán
Đây là vấn đề khó khăn của việc đối thoại trong phân định thần khí. Trong mối tương quan đồng hành, việc lắng nghe đích thực là không phê phán, không lên án. Vị linh hướng cần đón nhận người đang đối thoại với mình như chính họ là. Điều này không đi ngược với việc sửa chữa những khuyết điểm.
Óc xét đoán từ phía người linh hướng dễ tạo sự tò mò không tốt nơi chính họ và gây cảm giác bị theo dõi, điều tra nơi người thụ hướng. Dẫu biết rằng khi đối thoại, nhà linh hướng cũng cần phải biết về người đang đối thoại với mình để hướng dẫn, nhưng phải tìm hiểu cách khôn khéo chứ không phải như cảnh sát điều tra.
Con người là một huyền nhiệm, nên người linh hướng không dễ gì hiểu được hết tất cả về người đang đối thoại với mình nếu chỉ căn cứ trên những lời chia sẻ của họ. Vì thế, nhà linh hướng cần phân định hoàn cảnh, cũng như tâm lý của người thụ hướng dẫn tới những suy nghĩ và hành động như thế.
Vì vậy, trong việc linh hướng, nhà linh hướng giúp người thụ hướng xem xét những gì đã can dự vào đời sống người thụ hướng và phải đứng vào hoàn cảnh người thụ hướng rồi đưa ra những đường hướng để đương sự chọn.
3. Quyết định giùm
Trong các cuộc đối thoại, nhà linh hướng tìm cách đóng vai người bạn đường của người thụ hướng để trả lời những thắc mắc của họ. Có thể dùng kinh nghiệm riêng để chia sẻ, tùy theo chúng có lợi cho việc linh hướng đó hay không. Nhà linh hướng không được phép áp đặt những kinh nghiệm của mình lên người thụ hướng hoặc đưa ra những giải pháp, sau đó nói cho đương sự biết đâu là chọn lựa tốt nhất. Ở đây, “có một điều luôn luôn đúng: nhà linh hướng là những người bạn đường hơn là những ‘tấm màn trong trắng’ cho người thụ hướng phóng chiếu.”
[9]
Tiến trình đối thoại giúp người thụ hướng hoàn toàn tự do trong việc chọn lựa và quyết định. Họ được khuyến khích đi trên đôi chân của chính mình mà đến với Chúa, chứ không được hoàn toàn dựa vào những đề nghị của người hướng dẫn.
“Từ sự hiểu cặn kẽ về người thụ hướng, vị linh hướng có thể chỉ dẫn cho họ những điều cần thiết. Tương tự như một bác sĩ khi đã chẩn đoán đúng bệnh, thì có thể cho bệnh nhân những liều lượng thuốc phù hợp. Tuy nhiên, việc cho người khác những lời chỉ dẫn là việc làm quan trọng, do vậy phải cẩn trọng hết sức, đừng quá dễ dàng cho người khác một lời khuyên. Nên nhớ nguyên tắc rằng vị linh hướng chỉ đóng vai trò soi sáng, gợi mở chứ không phải là quyết định thay cho người khác.”
[10]
Nếu vị linh hướng quyết định giùm cho người thụ hướng có thể làm cho họ trở nên nhu nhược và phụ thuộc vào vị linh hướng. Khi ấy, nhà linh hướng sẽ trở thành tiêu điểm cho công việc đối thoại chứ không phải người thụ hướng. Người hướng dẫn hãy khuyến khích và gieo vào lòng người đối thoại tư tưởng lạc quan lành mạnh, đặt nền tảng trên lòng tin vào Thiên Chúa Tối Cao.
Triết gia Socrate gọi phương pháp giáo dục của mình là “khích biện pháp” và ông thú nhận rằng đã học được phương pháp này nơi nghề hộ sinh của mẹ mình. Việc hộ sinh không bao giờ có nghĩa là sinh thay cho người khác, mà chỉ giúp đỡ để sản phụ sinh dễ dàng và đảm bảo hơn, thì việc đồng hành thiêng liêng cũng thế.
Tóm kết
Việc linh hướng và phân định thiêng liêng rất tế nhị và khó khăn. Nó bao gồm mọi chiều kích của cuộc đời thụ hướng sinh: nhân bản và thiêng liêng, tự nhiên và siêu nhiên. Vì thế vị linh hướng phải cập nhật các kỹ năng linh hướng, những hiểu biết về tâm sinh lý, khả năng tư vấn, biết vận dụng các khám phá hữu ích của tâm lý học, y học và xã hội học hiện đại. Người linh hướng có thể là linh mục, nam nữ tu sĩ, miễn là được Chúa Thánh Thần kêu gọi. Nhà linh hướng đích thực là Chúa Thánh Thần vì chỉ có Ngài mới biết đầy đủ một con người và biến đổi tận gốc con người đó.
[11]
Công đồng Va-ti-ca-nô II chủ trương đối thoại với mọi người và quan niệm đối thoại như phương thế hữu hiệu nhất để xây dựng một thế giới nhân ái, cũng như để kiếm tìm chân lý. Theo các nghị phụ, “niềm ước mong đối thoại đó hoàn toàn phát xuất từ lòng yêu mến chân lý và dĩ nhiên với sự khôn ngoan cần thiết, không loại trừ một ai: từ những người đang tôn thờ những giá trị tinh thần nhân bản cao quý, mà chưa nhận biết Đấng Tạo Thành, cho đến những người chống đối và bách hại Giáo hội dưới nhiều hình thức. Bởi vì Thiên Chúa Cha là nguyên lý và cùng đích của tất cả mọi người, tất cả chúng ta được kêu mời trở thành anh em với nhau. Và bởi vì được mời gọi chia sẻ cùng một thiên chức nhân bản và thần linh, chúng có thể và phải cộng tác, không bạo động và không xảo trá, để xây dựng một thế giới hoà bình thực sự”.[12]
Trên đường lữ hành ở trần gian này, chính Đức Giê-su dẫn chúng ta đi và đồng hành với chúng ta. Ngài là mẫu gương cho chúng ta về biện phân bằng đối thoại. “Với Đức Ki-tô, khuôn khổ cuộc đối thoại nổ tung. Nơi Đức Ki-tô, con người lắng nghe Thiên Chúa, và Thiên Chúa thông ban chính mình cách trọn vẹn cho con người như Ngài là, bởi vì trong Đức Ki-tô Thiên Chúa được đón nhận trọn vẹn. Cuộc trao đổi tình yêu và lời được hoàn tất… Bởi cuộc sống của Người, cái chết và sự phục sinh của Người, Chúa Ki-tô tự biểu lộ như người Thầy của đối thoại, khai mở đường lối đến với những khác biệt mời gọi nhau và đáp trả nhau, đến với những cá biệt không lẫn lộn với nhau, đến với sự duy nhất của những căn tính không hòa lẫn.”[13]
Chúa Giê-su, mẫu gương về biện phân bằng đối thoại. Con người Đức Giê-su là đối tượng mà mọi nỗ lực trong đời sống tu đức đều qui hướng về. Người thụ hướng phải khuôn định các hành động của mình theo mẫu mực của Đức Giê-su, Đấng chữa trị, dạy dỗ, phục vụ và thánh hóa tất cả chúng ta. Trên tất cả, chúng ta phải lắng nghe tiếng nói của Chúa trong tâm hồn mình.
 

[1] Lm. Giuse Phạm Thanh, Thần học về sự hoàn thiện Kitô giáo (Tôn Giáo, 2013), tr. 188.
[2] Andre Louf, Ân sủng còn kỳ diệu hơn (Desclee de Brouwer, 1992), tr. 108.
[3] Giuse Phạm Quốc Văn, OP., Tự đào tạo & đào tạo khả năng phân định (Lưu hành nội bộ, 2013), tr. 91.
[4] Trích lại, Giuse Phạm Quốc Văn, OP., Thần học Tâm linh (2009), tr. 234.
[5] Xc. Jordan Aumann, OP., Đời sống tâm linh, tập II (1995), tr. 329.
[6] Xc. Jordan Aumann, OP., Đời sống tâm linh, tập II (1995), tr. 305.
[7] W.A. Barry và W.J. Connolly, Tập làm linh hướng (không rõ nxb), tr. 267.
[8] Xc. Jordan Aumann, OP., Đời sống tâm linh, tập II (1995), tr. 310-311.
[9] W.A. Barry và W.J. Connolly, Tập làm linh hướng (không rõ nxb), tr. 261.
[10] Nhóm sinh viên thần III, Ánh sáng và bóng tối (Trung tâm HVĐM, niên khóa 2011-2012), tr. 173-174.
[11] Xc. Lm. Trần Minh Huy, pss., Đào tạo các nhà đào tạo (http://www. Giaoducconggiao .net/ index.php?m =module3&v=chapter&ib=1&ict=12), truy cập ngày 1/12/2013.
[12] Vatican II, Gaudium et Spes, số 92.
[13] Giuse Phạm Quốc Văn, OP., Tự đào tạo & đào tạo khả năng phân định (Lưu hành nội bộ, 2013), tr. 97.
 
 
 
 
 
Tài liệu tham khảo
 
Andre Louf. Ân sủng còn kỳ diệu hơn. Desclee de Brouwer, 1992.
Giuse Phạm Quốc Văn, OP. Tự đào tạo & đào tạo khả năng phân định. Lưu hành nội bộ, 2013.
Lm. Giuse Phạm Thanh. Thần học về sự hoàn thiện Kitô giáo. Tôn Giáo, 2013.
Lm. Trần Minh Huy, pss. Đào tạo các nhà đào tạo, (http://www.giaoducconggiao.net/index.php?m=module3&v=chapter&ib=1&ict=12).
Nhóm sinh viên thần III. Ánh sáng và bóng tối. Trung tâm HVĐM, niên khóa 2011-2012.
Trích lại, Giuse Phạm Quốc Văn, OP. Thần học Tâm linh. 2009.
Vatican II. Gaudium et Spes.
W.A. Barry và W.J. Connolly. Tập làm linh hướng. Không rõ nxb. 
Xc. Jordan Aumann, OP. Đời sống tâm linh, tập II. 1995.

Tác giả bài viết: Tu sĩ Giuse Trần Văn Yên CSC

Nguồn tin: TTTN

  Ý kiến bạn đọc

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

Tin mới
Bài đọc nhiều