ĐỨC CHA EUGÈNE MARIE JOSEPH ALLYS PHẦN II
02.08.2009 00:55
ĐỜI GIÁM MỤC
6. Đức Giám Mục hiệu toà Pharcuse
Năm 1907 Đức Cha Caspar từ chức về nghỉ hưu ở Pháp, linh mục Izarn tạm điều hành giáo phận trong 1 năm, cha Allys vẫn tiếp tục đảm nhiệm giáo xứ Phủ Cam.
Toà thánh bổ nhiệm linh mục Allys làm Giám mục Hiệu toà Pharcuse lãnh đạo giáo phận Huế. Lễ tấn phong Giám Mục cử hành tại thánh đường Phủ Cam vào ngày 24.5.1908, Đức Cha Mossard Giám mục Sài gòn chủ phong. Có linh mục JB. Nguyễn Bá Tòng dự lễ.
ĐỨC CHA EUGÈNE MARIE JOSEPH ALLYS PHẦN II
Đức
Cha Allys là vị Giám Mục Tông Toà giáo phận Huế thứ 5 kể từ ngày giáo
phận biệt lập (1850), sau các Đức Cha Pellerin, Sohier, Pontvianne và
Caspar.
Đức
Tân Giám Mục vẫn tiếp tục kiêm cha sở Phủ Cam cho tới năm 1910, ngài
lãnh đạo giáo phận theo đường lối của vị tiền nhiệm và đưa giáo phận
vào giai đoạn phát triển cao, có thể nói là cao nhất so với trước kia.
Công
việc đầu tiên của ngài là di chuyển Toà Giám Mục từ Kim Long về Phủ
Cam, và nhà thờ giáo xứ Phủ Cam trở thành nhà thờ Chánh Toà.
Đức
Cha nhờ Cụ Nguyễn Hữu Bài mua lại các sở vườn của tư nhân ở gần sông
Phủ Cam và giao cho linh mục Léculier xây cất Toà Giám Mục và sở Quản
Lý giáo phận. Năm 1909, Đức Cha về ở Toà Giám Mục mới, tồn tại đến ngày
nay.
Đức
Cha đã phân trong Tỉnh Thừa Thiên ra làm hai hạt mới : Hạt Bên Thuỷ và
Hạt Bên Bộ. Hồi đó, Hạt Bên Thuỷ gồm một số giáo xứ nghèo nàn xa xôi.
Một số lại bị Văn Thân tàn phá như vùng Phú Lộc và Buồng Tằm.
7. Ưu tiên mục vụ
Công
tác ưu ái và quan trọng nhất của ngài khi làm giám mục là đẩy mạnh hơn
nữa công trình của đời linh mục đó là quan tâm chăm sóc những người mới
trở lại đạo.
Ngài
nhiệt tâm hoạt động, thật là một vị thừa sai nhiệt thành trong việc
truyền giáo cho lương dân và tìm cứu những trẻ em bị bỏ rơi hay sắp
chết. Ngài khuyến khích các linh mục đi đến với lương dân, thành lập
các giáo xứ mới và xây dựng nhà nguyện. Trong một lá thư của ngài,
chúng ta đọc được thao thức của vị tông đồ. Đức Cha viết : “Giáo phận
Bắc Đàng Trong có nhiều thuận lợi lớn bảo đảm cho sự thịnh vượng ngày
mai. Giáo Phận tương đối ít rộng, diện tích có chừng 9000 km2 . Hàng
Giáo Sĩ đông đúc, dù gặp nhiều khó khăn đủ loại, công cuộc truyền giáo
vẫn thu được nhiều kết quả tốt đẹp. Tuy nhiên kể từ lúc khai sinh, giáo
phận luôn luôn thiếu hụt tài chánh. Điều này đã cản trở nhiều công tác
hữu ích trong giai đoạn đầu, thậm chí đã bắt buộc giáo phận hạn chế
những việc quan trọng như chăm sóc người chầu nhưng và đào tạo hàng
giáo sĩ bản quốc.
Từ
nhiều năm, các vị Thừa Sai ngoại quốc và các linh mục Việt Nam đã tích
cực chăm lo cho người lương trở lại, nhưng để sự cố gắng này đạt được
thành quả lâu bền, cần phải có hai điều kiện là có Thầy Giảng và nhà
nguyện cho các địa điểm truyền giáo. Mỗi địa điểm có chừng 40-45 tân
tòng. Xây một nhà nguyện tốn khoản 200 đồng bạc. Đào tạo một thầy giảng
cũng đòi hỏi một ngân khoản tương đương. Vì cần nhiều nhà nguyện và
nhiều thầy giảng, nên phí tổn tổng cộng vượt quá ngân khoản dự liệu
trung bình” .
Trong
23 năm điều khiển giáo phận Huế, ngài được niềm vui đón nhận 37.000 dự
tòng vào trong lòng Giáo Hội. Trong các cuộc trở lại, ngài không cho là
do công nghiệp của ngài, nhưng ngài cảm tạ Thiên Chúa tốt lành đã
thương đến vùng truyền giáo nhỏ bé của Huế. Ngài biết ơn sự nhiệt thành
của các cộng sự viên người Pháp cũng như người Việt, những người đạo
đức, đặc biệt con cái thánh Têrêxa Avila mà lời cầu nguyện hy sinh đã
lôi kéo bao nhiêu phúc lành của Chúa xuống trên Giáo Hội địa phương.
8. Vấn đề Tư Thục
“Hiện
thời còn có vấn đề khác khẩn trương hơn cho tất cả vùng Đông Dương,
điều mà chúng tôi không thể bỏ qua được, vì lợi ích cứu rỗi các linh
hồn đó là vấn đề tư thục.
Muốn
mở trường phải có thầy dạy mà chúng tôi thì thiếu hết mọi sự, lại nữa
đào tạo giáo viên hao tốn nhiều hơn huấn luyện thầy giảng. Vì giáo viên
phải hiểu biết nhiều điều hơn thầy giảng. Đang khi chờ đợi, Chúa quan
phòng vẫn ban nhiều ơn. Phần tôi, tôi cảm thấy đau lòng khi thấy số
đông con em học sinh công giáo đi học các trường do các thầy bên lương
điều khiển. Các em học sinh này được giáo dục do các giáo viên vô thần
và thường thường có xu hướng chống đối Giáo Hội” .
Những năm cuối thập kỷ 20, mặc dù sức khoe trang334a
9. Vị trí không thể thiếu của tu sĩ
Trong
suốt thời gian Đức Cha Allys lãnh đạo, trên địa bàn giáo phận có nhiều
Dòng Tu ra đời hoặc do Đức Cha mời tới hoặc do Đức Cha xin phép Toà
Thánh thành lập. Vườn hoa giáo phận được mùa nở rộ những bông hoa nhiều
sắc, nhiều hương, giúp ích cho Giáo Hội và cho xã hội :
Ngài
đã bảo trợ việc thành lập Dòng Kín Carmel ở Huế (1909), đan viện Phước
Sơn ở Quảng Trị (1918), để yểm trợ công việc truyền giáo bằng đời sống
cầu nguyện, hy sinh. Ngài cũng mời các cha Dòng Chúa Cứu Thế Canada đến
tiếp tay trong lãnh vực mục vụ (1925). Nhưng ngài vẫn còn canh cánh bên
lòng mối ưu tư về lớp trẻ cần được giáo dục trong Đức Tin và thăng tiến
về văn hoá. Ngài đã lập Dòng Con Đức Mẹ Vô Nhiễm (1920), và Dòng Sư
Huynh Giáo giảng viên giáo lý Thánh Tâm (1925). Ngài công nhận Dòng chị
em Mến Thánh Giá Cải Cách Kim Đôi (1924), nay gọi là Dòng Con Đức Mẹ Đi
Viếng.
10. Toà Khâm sứ Toà thánh thiết lập tại Huế (1925)
Một
sự kiện lịch sử quan trọng đối với Giáo Hội Công Giáo Việt Nam xảy ra
ngày 20.5.1925, thời Đức Cha Allys, giáo phận Huế được hai vinh dự :
Một là Cụ Quận Công Nguyễn Hữu Bài, một đại thần của triều đình Việt
Nam, là tín hữu công giáo đạo đức và hào hiệp có nhiều hoạt động lớn
lao phục vụ Giáo Hội ; hai là do thỉnh nguyện của Quận Công, Toà thánh
quyết định thiết lập toà Khâm Sứ Toà Thánh tại Đông Dương đặt trụ sở ở
Phủ Cam .
ĐGM. Constantino AYUTI (1876-1928) được bổ nhiệm làm Khâm Sứ Toà Thánh đầu tiên, từ năm 1925-1928.
11. Nguyệt san “Sacerdos Indosinensis”
Đức
Cha Allys phối hợp và lãnh ý Đức Khâm Sứ Toà Thánh Ayuti cho xuất bản
Nguyệt San “Sacerdos Indosinensis”. Đây là tờ báo có tôn chỉ mục đích
trao đổi, liên lạc và phổ biến các tài liệu tôn giáo, là cơ quan ngôn
luận của hàng giáo sĩ Việt Nam. Tờ báo được giao cho linh mục Cadière
thực hiện và làm chủ nhiệm. Số đầu tiên phát hành ngày 19.3.1927.
12. Vị Giám mục đầu tiên gửi sinh viên du học Roma
Năm
1922, tháp tùng vua Khải Định sang Pháp, Cụ Nguyễn Hữu Bài đến La Mã,
được ĐGH. Piô XI tiếp kiến. Ông dâng lên ĐGH. thỉnh nguyện gồm 4 nội
dung chủ yếu, trong đó có hai nội dung :
- Xin cải tổ công việc huấn luyện trong các chủng viện
- Xin lập hàng giáo phẩm và cho hai người Việt Nam được học ở trường Truyền giáo Roma.
Kết quả là ngày 30.6.1924 bộ Truyền Giáo Toà Thánh có 2 quyết định quan trọng:
- Thiết lập Toà Khâm Sứ Toà Thánh
- Ban huấn thị yêu cầu các thừa sai phải nỗ lực thăng tiến các linh mục bản xứ,...
Hưởng
ứng huấn thị, Đức Cha Allys gởi hai sinh viên Đại Chủng Viện Phú Xuân
qua Roma du học. Hai sinh viên đó là hai thầy Phêrô Ngô Đình Thục và
Phêrô Nguyễn Văn Lành. Đây là lần đầu tiên các sinh viên Đại Chủng Viện
Huế chính thức được nhận vào Đại Học Đường “Truyền Giáo”, một đại học
lớn của Roma .
13. Người của mọi người
Đức
Cha sống rất đơn giản, tiếp xúc dễ dàng với mọi hạng người, người Việt
Nam cũng như người đồng hương của ngài. Ngài ôn tồn đối với các chính
quyền Pháp -Việt sẵn sàng giúp đỡ khi cần thiết.
- Đức
Cha Allys được thưởng huy chương Chevalier de la Légion d’honneur (tạm
dịch ‘Bắc Đẩu Bội Tinh’), bằng sắc lệnh của quan Toàn Quyền Đông Dương
Albert Sarraut ngày 05.02.1921. Ngày 14.7.1921 quan Toàn Quyền Pháp tại
Việt Nam, ông Pierre Pasquier đã long trọng trao huy chương này trước
sự hiện diện quân đội Hoàng Đế Khải Định và Triều Đình, ngay trước ngọ
môn của cung điện Nhà Vua.
- Ngày
14.4.1921 Vua Khải Định tưởng thưởng Đức Cha Allys ‘Bội Tinh Kim Khánh’
ngoại hạng đặc biệt của Triều Đình dành cho những nhân vật cao cấp.
-
Năm 1925, vào dịp Kim Khánh Linh mục của Đức Cha, ngài được phong ‘Đại
Quan’ của Triều Đình Việt Nam và nhận từ Toà Thánh tước vị ‘Phụ Tá Ngai
Toà Thánh’ (Assistant au Trône).
14. Xây dựng Toà Giám Mục, Nhà Chung
Sau
khi quyết định chọn nhà thờ Phủ Cam làm nhà thờ Chính Toà, Đức Cha
Allys cho di chuyển Toà Giám Mục và nhà Quản Lý về Phủ Cam, gần nhà thờ
Chính Toà. Đức Cha giao trọng trách này cho thừa sai Léculier Lựu.
Nhờ
sự giúp đỡ của cụ Nguyễn Hữu Bài, địa phận mua được một lô đất tư bên
bờ tả ngạn sông Phủ Cam, đối diện phía hữu ngạn là nhà thờ Phủ Cam. Tuy
nhiên, do phải đầu tư một lúc vào nhiều công trình mà khả năng tài
chánh của Địa phận Huế có hạn nên trụ sở Toà Giám Mục và nhà Quản Lý
địa phận chỉ là những căn nhà mái ngói bình thường. Mãi đến năm 1931
Đức Cha kế vị Chabanon Giáo mới tiếp tục xây dựng Toà Giám Mục Huế lớn
lao hơn. Địa điểm này tồn tại cho đến ngày nay là TOÀ TỔNG GIÁM MỤC
HUẾ, số 6 Nguyễn Trường Tộ-Huế.
Qua tháng 7 năm 1909 Đức Cha Allys dạy thừa sai Léculier xây dựng thêm Nhà Chung, cũng trong khuôn viên Toà Giám Mục.
15. Đức Mẹ Lavang trong thời giám mục của Đức Cha Allys.(trích tài liệu Hành Hương Giáo Phận, tập II)
Năm
1923 Đức Cha Allys đã có đề án xây cất một đền thờ Đức Mẹ La Vang nguy
nga và rộng lớn. Công trình kiến thiết đó được giao cho thừa sai
Morineau Trung, cha sở Cổ Vưu kiêm La Vang.
Đức
Cha tha thiết kêu gọi tấm lòng con cái trong ngoài giáo phận Huế, nhanh
chóng đóng góp công của xây dựng ngôi đền thờ Đức Mẹ La Vang. Đáp lại
lời kêu gọi ấy giáo dân khắp 3 miền hưởng ứng nhiệt liệt.
"Sau
gần 4 năm (1924-1928) xây cất, ngôi thánh đường mới với hai tầng mái và
hai cánh thánh giá cổ điển cùng với cây tháp vuông hai tầng cao ngất,
nổi bật lên giữa cảnh đồi cát chung quanh và núi rừng xa xa. Đây là
ngôi nhà thờ ngói thứ hai minh chứng lòng thành kính Đức Mẹ La Vang của
giáo dân toàn quốc.
Qua ngày 20, 21 và 22.8.1928 lễ Tam Nhật Đại Hội (lần 9) cũng là lễ khánh thành đền thờ mới...
Mặc
dù lễ khánh thành nhà thờ đã được tổ chức nhưng lúc bấy giờ cái tháp
chuông chưa xong. Đến ngày 30.9.1928 là ngày Chúa Nhật, Đức Cha Allys
đã cử hành tại đền thờ mới lễ làm phép 3 quả chuông La Vang một cách
long trọng với sự tham dự của cụ thủ tướng Nguyễn Hữu Bài, cùng với các
linh mục và một số đông quan khách Việt Pháp ở Huế và ở Quảng Trị vào".
Dòng Thánh Tâm --------------------------------
|