Trang chủ Gửi bài viết Liên hệ Lưu bút mv-Mùa thi Tải Files

 Liên kết website 

     
| Vietcatholic news
| Mạng Lưới Cầu Nguyện
| Bề trên thượng cấp
liên hệ đặt liên kết trên site
  
 
Tin tức » Giới thiệu » Đức Cha Tổ Phụ 31.07.2010 13:41
ĐỨC CHA EUGÈNE MARIE JOSEPH ALLYS PHẦN V
02.08.2009 00:59

Xem hình
CHÂN DUNG TINH THẦN

BÌNH DIỆN NHÂN BẢN

23. Vui vẻ lạc quan

Khi Đức Cha Allys còn là linh mục trẻ tuổi mới đến Việt Nam, Đức Cha Sohier đã nhận thấy nhiều đức tính cao đẹp nơi ngài. Đức Cha Sohier nói : “Người bạn mới này sẽ là Bề Trên giáo phận”. Ngài thông minh bén nhạy, mặc dù không phải là nhà thông thái, ngài có một con tim tế nhị, biết rung cảm với người khác, vì thế ngài giao thiệp tiếp xúc dễ dàng với mọi hạng người. Người ta nói : “Ngài là vị Giám Mục mỉm cười”. Ngài không để cho mình bị đè nặng bởi âu lo thái quá. Đức Cha Chabanon cộng tác viên và là Giám Mục phụ tá ngài nói : “Khi Đức Cha Lý có điều gì ưu tư nặng lòng thì ngài hát lên”.

Trong ngày Quốc Khánh 14.7.1921, nhân dịp trao tặng huy chương cho ngài, Toàn Quyền Pasquier đã phác họa bức chân dung của vị Giám Mục trong một bài diễn văn như sau : “Khi chính quyền gắn huy chương đỏ trên áo tím Giám Mục của ngài là có ý biểu dương những đức tính hùng dũng và chắc chắn nơi ngài. Ngài mang những đức tính ấy với một lòng quả cảm không bao giờ tắt nụ cười trên môi với lòng nhiệt thành đến độ hăng say, với một sự lạc quan thổi vào những ngọn lửa đang chập chờn”.

24. Đơn sơ giản dị

Nhà ở cũng như cách ăn uống, cách tiếp xúc của ngài đều rất đơn giản. Ngài yêu cầu tổ chức đám tang cho ngài đơn sơ, không vòng hoa, không điếu văn, không dàn chào. Trong lá thư của Cố Thuận (Denis) viết về cho mẹ ngài năm 1913, ngài kể như sau : " Tuần này Đức Cha đến thăm chủng viện, ngài là một đấng rất thánh. Đau đớn cả đời mà hằng làm việc luôn. Thế mà lại không khó nuôi gì cả, chỉ một chén cơm với một miếng cá luộc là xong bữa. Mỗi ngày con chỉ tốn cho ngài 5 xu, mà con lại lợi nhiều…"

Ngày 15.1.1922, Cố Thuận lại viết tiếp : "Hôm qua Đức Cha Lý đến thăm Dòng Phước Sơn. Thật là một ngày đại lễ cho chúng con. Ngài tỏ bộ vui vẻ lắm… Ngài đã chịu và đang chịu nhiều gian nan vì con chiên. Ngài không ăn chi hết mà sống ! Không bánh, không cơm, không rượu, không thịt, không chi hết, hầu như ngài chỉ ăn cái không không ! thật lạ ! Mỗi bữa thì dùng ít cá luộc và vài củ khoai cũng luộc thôi ! Dầu có đón rước ngài, thật dễ, không cần ai cầm áo đuôi vì ngài không có, không xe hơi, không tài xế, không đầy tớ, đầu bếp cũng không. Bất kỳ ai làm bếp cho ngài cũng được, chỉ lấy khúc cá và củ khoai bỏ vào nấu nước sôi lên, thế là xong bữa tiệc của ngài rồi! Ăn uống như vậy, đau khổ như kia mà diện mạo vẫn tươi như hoa nở. Ai có việc chạy đến với ngài thì ngài hết sức lo lắng như không có việc chi khác. Ngài sẵn sàng giúp đỡ mọi người, dầu việc xem ra quá sức. Ngài sang Việt Nam năm 1875 mà chưa về Tây lần nào. Nguyện xin Chúa cho ngài trường thọ lâu năm nữa"

25. Thích đối thoại, ôn hoà với mọi người

Trái tim ngài ôm ấp mọi người, không trừ một ai, trong bữa ăn không ai mà không được ngài lưu tâm hỏi han như câu châm ngôn Giám Mục của ngài : “TÔI YÊU MẾN MỌI NGƯỜI”. Ngài tận tụy giúp đỡ những người công giáo cũng như người lương dân, nên ngài được huy chương của Giáo Hội cũng như của hai chính quyền Việt-Pháp. Cửa nhà ngài luôn rộng mở đón mọi hạng người, thường dân cũng như quan lại.

26. Can đảm, kiên quyết

Khi cha Allys là cha xứ Dương Sơn năm 1883, Đức Cha Caspar biết được tin Văn Thân sẽ giết hại người công giáo trong giáo phận, liền báo tin cho cha Allys bảo ngài vào Kim Long để được an toàn hơn, nhưng ngài tự nguyện ở lại với đoàn chiên của mình.

Đầu năm 1924, khi các linh mục cấm phòng chung tại Đại Chủng Viện Phú Xuân Huế,  Đức Cha Allys tỏ cho các cha hay ý ngài muốn lập một hội dòng thầy giảng, tương tự như Dòng của cha Jean de la Monnais đã lập ở Pháp. Bấy giờ có nhiều người không tán thành, thậm chí chống đối ra mặt. Song Đức Cha vẫn một lòng cương quyết vững dạ sắt son, đã định làm sao quyết làm nên như vậy .

BÌNH DIỆN TU ĐỨC

27. Khiêm tốn và bác ái

Lúc lãnh bí tích cuối cùng, ngài đã xin lỗi các linh mục có mặt cũng như vắng mặt. Ngài thì thào câu : “Cha mến thương tất cả chúng con biết bao !” Đó là tất cả tấm lòng của ngài, tấm lòng của một mục tử chỉ biết sống cho đoàn chiên. Ngài lưu tâm đến nhu cầu tinh thần và vật chất của Dân Chúa, đặc biệt là các linh mục, những người cộng tác chăn dắt đoàn chiên và truyền giáo cho lương dân.

28. Lòng yêu Bí tích Thánh Thể và các linh hồn

Trong thời gian làm cha xứ, sau giờ đọc kinh chung với giáo dân ban tối, ngài thường ở lại chầu Thánh Thể rất lâu. Lúc bị mù loà hưu trí, ngài thường ở trong nhà thờ suốt buổi chiều để cầu nguyện và chầu Thánh Thể. Tuy vậy trước khi qua đời, ngài nói : “Ngày nào ra trước toà phán xét, tôi chỉ sợ hai điều : một là khi còn sống đã không yêu phép Thánh Thể cho đủ, hai là không hết tình cứu giúp các linh hồn nơi luyện ngục”.

29. Tin tưởng vào hoạt động của Chúa Thánh Linh

Các chủng sinh thỉnh thoảng đến thăm ngài, ngài thường nhắc nhủ : “ Khi chúng con làm linh mục, chúng con phải làm cho bổn đạo biết và yêu mến Chúa Thánh Thần, vì phải có ơn Chúa Thánh Thần mới giữ đạo được”.

30. Lòng yêu mến Đức Mẹ

Từ hồi niên thiếu, Đức Cha đã tỏ lòng yêu mến Đức Mẹ cách đặc biệt, ngài năng đến cầu nguyện với Đức Mẹ tại nhà thờ xứ và hang đá Đức Mẹï, ngài rất siêng năng lần hạt nhất là lúc về già, những khi rảnh rỗi, tay ngài luôn cầm tràng hạt. Do lòng kính mến ấy đối với Đức Trinh Nữ Maria Vô Nhiễm, Đức Cha đã chọn ngày lễ Sinh Nhật Đức Mẹ để khai sinh Hội Dòng mới và đặt tên là Dòng Con Đức Mẹ Vô Nhiễm.

Khi nhận được 2 huy chương do hai nước Pháp và Việt Nam trao tặng để ân thưởng ngài, ngài đã có ý tưởng rất đẹp, vừa ngộ nghĩnh vừa biểu lộ tình yêu của ngài đối với Đức Mẹ ở Paimpont, giáo xứ thân yêu của ngài. Đức Cha đã gửi 2 huy chương về Paimpont nhờ cháu xin cha xứ đeo vào cổ tượng Đức Mẹ và tượng Chúa Giêsu đặt trong nhà thờ xứ.

Với tư cách vị chủ chăn của giáo phận, ngài sốt sắng tổ chức Đại Hội Lavang và cho xây cất lại ngôi thánh đường Lavang rộng lớn hơn.

31. Can đảm chấp nhận Thánh giá

Sự nghiệp thừa sai của ngài nói lên lòng can đảm chấp nhận mọi thánh giá, thử thách của người tông đồ. Nụ cười trên môi chứng minh lòng phó thác giữa mọi gian truân thử thách khó khăn, vì ý thức rằng hạt lúa mì phải thối đi để sinh bông hạt, và không tình yêu nào lớn lao hơn tình yêu của người liều mạng sống vì kẻ mình yêu.

Thánh giá cuối đời của ngài là mù hai mắt. Đối với ngài, một con người hăng say hoạt động thì đó là một thử thách lớn. Ngài nói : “Chúa nhân lành không thể nào gởi cho tôi một thánh giá nào lớn hơn nữa, xét theo tính khí của tôi”. Ngài đã can đảm chấp nhận vui tươi, nhẹ nhàng trong suốt 6 năm. Ngài tận tụy trong nhiệm vụ đến tiêu hao sức lực thể xác, nhưng những ngày hưu trí vẫn là chuỗi ngày hy sinh cầu nguyện cho công cuộc truyền giáo của giáo phận. Ngài thường nói : “Điều quan trọng là cầu nguyện và chịu đau khổ”.

 BÌNH DIỆN TÔNG ĐỒ

32. Ưu tiên cho tân tòng

Đức Cha Lý quả là một vị tông đồ nhiệt thành. Ngài tận tụy suốt đời, từ khi là linh mục và trong suốt thời gian làm giám mục. Ngài luôn quan tâm đến việc làm cho người lương trở lại, tìm những trẻ em bị bỏ rơi, hoặc sắp chết để rửa tội. Ngài khuyến khích các linh mục đi đến với lương dân. Ngài cung cấp tiền bạc, phương tiện dồi dào cho việc giảng dạy tân tòng, dự tòng, thành lập các giáo xứ mới, xây cất các nhà nguyện và nhà thờ...

Ngài không tiếc tiền bạc trong việc truyền giáo. Dĩ nhiên đã có người lạm dụng lòng tốt của ngài. Người ta thường trách ngài để người khác lợi dụng, nhưng ngài trả lời : “Nếu phải tốn 1000 đồng để cho vài ba trẻ em được chắc chắn lên Thiên Đàng thì không đáng làm như vậy sao?”. Các linh mục chăm sóc tân tòng thường được ngài hỗ trợ nhiều về tài chính vì ngài biết họ phải chi phí nhiều.

33. Tông đồ bằng tình yêu

Tính tình vui vẻ cởi mở của ngài rất thích hợp cho việc truyền giáo. Ngài tiếp xúc với mọi hạng người một cách hồn nhiên và đầy lòng kính trọng yêu mến như câu châm ngôn của ngài : “CHA YÊU THƯƠNG MỌI NGƯỜI”. Tâm hồn mục tử của ngài được diễn tả trong huy hiệu Giám Mục bằng hình ảnh Chúa Chiên Lành dẫn dắt đoàn chiên. Ngài yêu mến và muốn cho mọi người được cứu rỗi, được nhận biết Chúa. Đó là động lực đức ái phát xuất từ Thiên Chúa. Ngọn lửa yêu mến Chúa đã nung đốt tâm hồn ngài thúc đẩy ngài hành động, và dùng mọi phương tiện để rao giảng Tin Mừng. “Ngọn lửa nhiệt thành Nhà Chúa nung đốt tâm hồn tôi” (Tv 69, 10)

Dù triều đình Việt Nam cấm cách bắt bớ, ngài vẫn tìm cơ hội truyền giáo cho họ, nhờ thế một công chúa cháu vua Minh Mạng đã trở lại đạo công giáo. Sau đó hai hoàng tử khác cũng trở lại và bị kết án tử hình. Đức Cha phải can thiệp để xin chước giảm. Các quan trong triều đình cũng tiếp tục chọn con đường theo Chúa.

34. Tông đồ bằng cầu nguyện, hy sinh

Đức Cha tin tưởng vào sức mạnh của lời cầu nguyện và sự hy sinh trong công cuộc truyền giáo, thỉnh thoảng ngài kêu gọi các nữ tu ăn chay cầu nguyện đặc biệt để xin ơn trở lại cho người nọ người kia. Ngài còn bảo trợ việc thiết lập hai đan viện Carmel và Phước Sơn để làm hậu thuẫn cho công cuộc truyền giáo (xem số 9)

Thời gian hưu trí của ngài cũng là những chuỗi ngày hy sinh cầu nguyện cho việc mở mang nước Chúa.

Đức Cha đã để lại trong lòng mọi người hình ảnh một vị mục tử nhiệt thành, vui tươi, hăng say trong việc loan báo Tin mừng Tình yêu của Chúa Cứu Thế mà ngài đã hiến thân phụng sụ suốt đời như một tôi tớ trung thành.



Dòng Thánh Tâm
--------------------------------



Gửi qua YM

 Bản để in  Lưu dạng file  Gửi tin qua email


Những bản tin khác:



Lên đầu trang
 Tin mới đăng 

Trang chủ    ¤   Liên hệ    ¤   Lưu bút    ¤   mv-Mùa thi    ¤   Sơ đồ site    ¤   Tải Files


Lượt truy cập : 086606
đang xem : 5 gồm 5 khách và 0 thành viên


Copyright © Dòng Thánh Tâm Huế - Việt Nam - All rights reserved - Website Chính thức hoạt động ngày 1 tháng 12 năm 2008
Website :http://domgthanhtam.net Email: dongthanhtam@gmail.com - Power by NV2+

lên đầu trang