ĐỨC CHA EUGÈNE MARIE JOSEPH ALLYS PHỤ TRƯƠNG
02.08.2009 01:00
Gương mặt cao quý và độc đáo của Đức Cha Lý,
Giám Mục giáo phận Huế
Đức Cha E.M.J. ALLYS Lý vừa mới qua đời tại Huế thuộc dòng dõi những vị thừa sai (conquérants) chinh phục. Đến Đông Dương vào thời những chiếu chỉ cấm đạo của vua Tự Đức, Đức Cha đã chứng kiến những biến cố đưa đến việc quân đội của đô đốc Courbet chiếm đóng Kinh Đô Annam.
Đức
Giám Mục Huế đã khởi đầu công cuộc tông đồ của mình từ những khó khăn
vất vả ấy. Ngài đã rất gan dạ để vận động và suy nghĩ. Bản năng chiến
đấu không nhường bước cho tuổi tác, Đức Cha đã tỏ ra rất nhiệt tình đến
hung hăng, để bảo vệ và gia tăng lợi ích cho trách nhiệm của ngài.
Ông
Henri Daguerches, một nhà văn giỏi về Á Châu đã kể cho chúng tôi nghe
chuyện một cuộc tuyển cử không may cho ông ta vì không có Đức Cha Lý
bên cạnh ông. Nhưng, chắc chăn trước nấm mộ của vị quy đạo già lão
thành, ông Daguerches hào hiệp cũng chỉ nhớ lại sự thanh cao gương mẫu
của một cuộc đời nhiệt thành đến anh hùng. Cách đây vài năm, đến Huế,
tôi đến chào thăm Đức Cha Lý ở Toà GiámMục, một ngôi nhà nhỏ kiến trúc
xưa cổ trang trí bằng những chùm lá cau, lá tre, và rất khiêm tốn so
với cơ ngơi của Đức Khâm Sứ.
Vào
một buổi sáng nặng nề của tháng 7, mà dù người mạnh khoẻ đến đâu cũng
cảm thấy cái khắc nghiệt của mùa hè nhiệt đới. Đức giám mục già của
chúng ta vẫn như là không cảm thấy gì.
Mảnh
khảnh, gầy gò, khuôn mặt hóp vào và như bị mất hút sau chòm râu bạc
trắng, Đức Cha luôn luôn nhiệt tình, vui vẻ dù đôi mắt ngài đã mờ đi vì
cái nắng chói chang của xứ nhiệt đới và bệnh thấp khớp do khí hậu ẩm
ướt tác động trên những người sống không kiêng dè và thiếu tiện nghi.
Đã sống nhiều và thấy nhiều, ngài là người khéo nói chuyện. Tôi phải
thú thực rằng các diễn văn của ngài không thiếu lúc chua chát và cay
độc. Khi bình luận về chính trị Đông Dương hay những cuộc tác chiến
quân sự vào các năm 1883-1885, ngài phê phán rất thẳng thắn và mạnh mẽ.
Cũng
vậy, đối với những người quá tin vào khẩu hiệu đến từ Paris "Hãy coi
chừng các vị thừa sai". Đức Cha Lý vừa phẫn nộ vừa vui vẻ đả kích nói
rằng : "Người ta trách chúng tôi quan trọng hoá việc giết hại các giáo
dân và dám kéo chính phủ vào một cuộc chiến mà nước Pháp không muốn ?
Vậy mà có 45.000 người trở lại đạo đã bị hành hình ! Như vậy không đủ
sao ? Khi chúng tôi báo cho cấp trên những nguy hiểm cũng như những sự
kiện ấy, họ không tin. Hoặc họ một mực từ chối không can thiệp".
Một
ngày kia, thấy chiếc tàu Pháp thả neo ở bến Tourane (Đà Nẵng) tôi xin
Quan Tự cho chạy dọc theo bờ, bắn đạn giả để trấn an giáo dân và doạ
những người tàn sát. Nhưng thật là chán nản, các sĩ quan bảo tôi rằng
họ đã nhận được lệnh dứt khoát không được đánh phá. Đức Cha Allys mỉm
cười tinh nghịch lưu ý rằng tướng C, người chỉ huy quân đội đã bỏ rơi
chúng tôi, là một người công giáo hơn ai hết. Vợ ông ở Pháp nghe nhận
xét về ông, đã tới xin BT. thừa sai ở rue du Bac, đừng phản kháng sự
buông thả của chồng bà.
Cũng
vì những lý do tương tự, vị đại diện lâm thời lúc ấy, ông M.H., cũng
không chiếu cố đến. Dù vậy, Đức Cha cười mỉa mai nói thêm : ông M.H. có
người chị tu ở Dòng Kín và ông ta năng nói về thánh Têrêxa. Ông ta bắt
chúng tôi thụ động quá. Tôi còn nhớ ông ta trách tôi vì giáo dân đã
nhận chìm nước một ông quan được chỉ định đi kiểm tra sự thật về các vụ
tàn sát. Ông quan điều tra ấy là một trong những người xúi giục bắt bớ.
Nếu ông M.H. không biết điều đó, thì giáo dân biết rất rõ. Dĩ nhiên tôi
lên án kiểu trả đũa đó. Nhưng ông M.H. cũng đã cho niêm yết trong các
làng rằng cấm người công giáo giết những người phật giáo. Tóm lại, từ
người bị giết, chúng tôi trở thành người tàn sát !
Đức
Cha Lý than thở : Ôi ! thời kỳ kinh hoàng ! Các giáo dân muốn kêu cứu
nước Pháp nhưng, tôi buộc lòng phải trả lời cho họ rằng ông tướng và
ông đại diện lâm thời quá bận ở nơi khác không giúp họ được !... Tuy
vậy, nhiều người trong họ rất tử tế với chúng tôi, và các con của họ là
những người thành tâm bênh đỡ chúng tôi. Dù ở Annam, ở Bắc Kỳ hay Nam
Kỳ các vị lãnh đạo đều thấy rằng : không thấy có những người công giáo
trong số những người Annam nổi loạn. Chứng tá, đức tin, và lời giảng
dạy của chúng tôi đã sinh hoa kết quả. Về phần tôi, 60 năm lưu đày và
những nỗi đắng cay vẫn làm cho tôi là người dân Pháp hơn bao giờ hết,
ngài nói điều đó với một nụ cười trẻ trung và một cử chỉ mạnh mẽ.
Tôi
hỏi Đức Cha, ngài có viết hồi ký không ? Đức Cha trả lời không và rất
đáng tiếc, vì lịch sử chính thức của chế độ bảo hộ Annam, theo Đức Cha,
sẽ rất cần một số điều chỉnh. Nhưng, ngài nói, mù như tôi, việc đó
không làm được. Muốn viết tôi phải dùng bút chì thật đen, và có người
bên cạnh hướng dẫn tay tôi.
Vị
chủ nhân đáng kính ngồi đó và im lặng. Vì sự thiếu quan tâm, tôi đã làm
ngài đau khổ khi tôi nhắc lại việc ngài không thể đọc và viết.
Bất
chợt ngài đứng lên cầm lấy tay tôi và nói : “Không phải chỉ có điều là
không viết nữa. Nhưng rồi đây tôi sẽ không ra ngoài, không đi, không
theo dõi, không ra lệnh. Mà ông biết không, tôi là một người hoạt động
!”. Một thoáng buồn hiện rõ trên khuôn mặt nghiêm nghị, và các đường
nét bỗng dưng như biến dạng đi.
Đức
Cha nói tiếp với một giọng nhẫn nhục hơn : “Tôi phải rút lui, về hưu,
và từ nay tôi chỉ còn có thể kể chuyện hoặc khuyên răn bảo ban. Có thể,
nhờ đó, người ta sẽ còn lui tới thăm tôi. Ở đây, tất cả mọi người, Pháp
cũng như Annam, họ rất tốt đối với tôi. Mới hôm qua ông Tổng Đốc nhất
định muốn đem tôi đi Sài-Gòn để mổ mắt. Nhưng tôi nghĩ rằng người ta
không thể làm được gì để chữa cho tôi. Nếu Chúa cho tôi còn sống thêm
một vài năm thì tôi sẽ sống với những hoài niệm. Vì tôi cũng có một vài
chuyện, từ ngày tôi tới Nam Kỳ, dưới thời ông Đô Đốc de la Grandière.
Ông đó đúng là một vị lãnh đạo ! Từ Paris ông nhận được chỉ thị phải bỏ
xứ này trừ Sai- Gòn và vùng ngoại ô. Thay vì giải quyết theo sự ngu
ngốc ấy, ông Đô Đốc chiếm các tỉnh mà triều đình Annam chơi xỏ chúng ta
và ông ta đã hoàn thành tốt, không tốn một người hay một đồng xu.
Nhờ
ông La Grandière và một vài người khác tôi hy vọng thấy vùng Đông Dương
trở lại hoà bình và thịnh vượng, trước khi tôi chết. Nói chung, dân
Annam là một dân dũng cảm, có lẽ là dân tốt nhất của cả vùng Cận Đông
và tôi vui mừng thấy rằng nước Pháp luôn luôn gửi đến cho họ những
người chỉ đạo vững vàng. Bây giờ, tôi hy vọng nhiều vào nước Annam của
tôi và tôi có thể giã từ họ.
Giọng
nói rôm rả và say sưa đang nói với tôi trong phòng khách khiêm tốn của
Toà Giám Mục đã vĩnh viễn ngừng hẳn và bụi đất đỏ của “xứ có bình minh
trầm lắng” đã phủ lên thi hài của người hùng xây dựng các xứ đạo.
Chính
Phủ Pháp được vinh dự ân thưởng Đức Cha Lý huy chương Bắc Đẩu Bội Tinh.
Là một gương mặt cao quý và độc đáo của xứ truyền giáo và thuộc địa
nước Pháp, Đức Giám Mục Huế rất xứng đáng sự biểu dương ấy. Nhưng phần
thưởng đẹp nhất của vị linh mục đồng hương của tôi ngày trước đã bị vua
Tự Đức cấm cách, chắc hẳn là được thấy một tiểu thư Đông Dương duyên
dáng, thân thiện với người Pháp hiên ngang vì niềm tin công giáo của
mình đang tiến lên ngai vàng ngồi bên cạnh Vua Bảo Đại.
René Valande --------------------------------
|