
<html>
<head>
<meta http-equiv="Content-Type" content="text/html; charset=utf-8">
<title>...:: Dòng Thánh Tâm - Huế ::... - ĐỨC CHA EUGÈNE MARIE JOSEPH ALLYS PHẦN V</title>
</head>
<body link="#4D5764" vlink="#4D5764" alink="#4D5764" text="#4D5764">
<center>
<table border="0" cellpadding="0" cellspacing="0" width="600">
<tr>
<td><b><font size="4">...:: Dòng Thánh Tâm - Huế ::...</font></b></td>
<td align="right"><font size="4"><a href="http://dongthanhtam.net/home">http://dongthanhtam.net/home</a></font></td>
</tr>
</table>
<hr color="#DC0312" width="600">
<table border="0" cellpadding="0" cellspacing="0" width="600">
<tr>
<td><b><font size="5">ĐỨC CHA EUGÈNE MARIE JOSEPH ALLYS PHẦN V</font></b><br>
<font size="2">02.08.2009</font><br><br>
<p align="justify"><b>CHÂN DUNG TINH THẦN<br /><br />BÌNH DIỆN NHÂN BẢN<br /><br />23. Vui vẻ lạc quan<br /><br />Khi Đức Cha Allys còn là linh mục trẻ tuổi mới đến Việt Nam, Đức Cha Sohier đã nhận thấy nhiều đức tính cao đẹp nơi ngài. Đức Cha Sohier nói : “Người bạn mới này sẽ là Bề Trên giáo phận”. Ngài thông minh bén nhạy, mặc dù không phải là nhà thông thái, ngài có một con tim tế nhị, biết rung cảm với người khác, vì thế ngài giao thiệp tiếp xúc dễ dàng với mọi hạng người. Người ta nói : “Ngài là vị Giám Mục mỉm cười”. Ngài không để cho mình bị đè nặng bởi âu lo thái quá. Đức Cha Chabanon cộng tác viên và là Giám Mục phụ tá ngài nói : “Khi Đức Cha Lý có điều gì ưu tư nặng lòng thì ngài hát lên”.</b><br>

<p style="text-align: justify;">Trong
ngày Quốc Khánh 14.7.1921, nhân dịp trao tặng huy chương cho ngài, Toàn
Quyền Pasquier đã phác họa bức chân dung của vị Giám Mục trong một bài
diễn văn như sau : “Khi chính quyền gắn huy chương đỏ trên áo tím Giám
Mục của ngài là có ý biểu dương những đức tính hùng dũng và chắc chắn
nơi ngài. Ngài mang những đức tính ấy với một lòng quả cảm không bao
giờ tắt nụ cười trên môi với lòng nhiệt thành đến độ hăng say, với một
sự lạc quan thổi vào những ngọn lửa đang chập chờn”.</p> 
<p style="text-align: justify;"><b>24. Đơn sơ giản dị</b></p> 
<p style="text-align: justify;">Nhà
ở cũng như cách ăn uống, cách tiếp xúc của ngài đều rất đơn giản. Ngài
yêu cầu tổ chức đám tang cho ngài đơn sơ, không vòng hoa, không điếu
văn, không dàn chào. Trong lá thư của Cố Thuận (Denis) viết về cho mẹ
ngài năm 1913, ngài kể như sau : " Tuần này Đức Cha đến thăm chủng
viện, ngài là một đấng rất thánh. Đau đớn cả đời mà hằng làm việc luôn.
Thế mà lại không khó nuôi gì cả, chỉ một chén cơm với một miếng cá luộc
là xong bữa. Mỗi ngày con chỉ tốn cho ngài 5 xu, mà con lại lợi nhiều…"</p> 
<p style="text-align: justify;">Ngày
15.1.1922, Cố Thuận lại viết tiếp : "Hôm qua Đức Cha Lý đến thăm Dòng
Phước Sơn. Thật là một ngày đại lễ cho chúng con. Ngài tỏ bộ vui vẻ
lắm… Ngài đã chịu và đang chịu nhiều gian nan vì con chiên. Ngài không
ăn chi hết mà sống ! Không bánh, không cơm, không rượu, không thịt,
không chi hết, hầu như ngài chỉ ăn cái không không ! thật lạ ! Mỗi bữa
thì dùng ít cá luộc và vài củ khoai cũng luộc thôi ! Dầu có đón rước
ngài, thật dễ, không cần ai cầm áo đuôi vì ngài không có, không xe hơi,
không tài xế, không đầy tớ, đầu bếp cũng không. Bất kỳ ai làm bếp cho
ngài cũng được, chỉ lấy khúc cá và củ khoai bỏ vào nấu nước sôi lên,
thế là xong bữa tiệc của ngài rồi! Ăn uống như vậy, đau khổ như kia mà
diện mạo vẫn tươi như hoa nở. Ai có việc chạy đến với ngài thì ngài hết
sức lo lắng như không có việc chi khác. Ngài sẵn sàng giúp đỡ mọi
người, dầu việc xem ra quá sức. Ngài sang Việt Nam năm 1875 mà chưa về
Tây lần nào. Nguyện xin Chúa cho ngài trường thọ lâu năm nữa" </p> 
<p style="text-align: justify;"><b>25. Thích đối thoại, ôn hoà với mọi người</b></p> 
<p style="text-align: justify;">Trái
tim ngài ôm ấp mọi người, không trừ một ai, trong bữa ăn không ai mà
không được ngài lưu tâm hỏi han như câu châm ngôn Giám Mục của ngài :
“TÔI YÊU MẾN MỌI NGƯỜI”. Ngài tận tụy giúp đỡ những người công giáo
cũng như người lương dân, nên ngài được huy chương của Giáo Hội cũng
như của hai chính quyền Việt-Pháp. Cửa nhà ngài luôn rộng mở đón mọi
hạng người, thường dân cũng như quan lại.</p> 
<p style="text-align: justify;"><b>26. Can đảm, kiên quyết</b></p> 
<p style="text-align: justify;">Khi
cha Allys là cha xứ Dương Sơn năm 1883, Đức Cha Caspar biết được tin
Văn Thân sẽ giết hại người công giáo trong giáo phận, liền báo tin cho
cha Allys bảo ngài vào Kim Long để được an toàn hơn, nhưng ngài tự
nguyện ở lại với đoàn chiên của mình.</p> 
<p style="text-align: justify;">Đầu
năm 1924, khi các linh mục cấm phòng chung tại Đại Chủng Viện Phú Xuân
Huế,&nbsp; Đức Cha Allys tỏ cho các cha hay ý ngài muốn lập một hội dòng
thầy giảng, tương tự như Dòng của cha Jean de la Monnais đã lập ở Pháp.
Bấy giờ có nhiều người không tán thành, thậm chí chống đối ra mặt. Song
Đức Cha vẫn một lòng cương quyết vững dạ sắt son, đã định làm sao quyết
làm nên như vậy . </p> 
<p style="text-align: justify;"><b>BÌNH DIỆN TU ĐỨC</b></p> 
<p style="text-align: justify;"><b>27. Khiêm tốn và bác ái</b></p> 
<p style="text-align: justify;">Lúc
lãnh bí tích cuối cùng, ngài đã xin lỗi các linh mục có mặt cũng như
vắng mặt. Ngài thì thào câu : “Cha mến thương tất cả chúng con biết bao
!” Đó là tất cả tấm lòng của ngài, tấm lòng của một mục tử chỉ biết
sống cho đoàn chiên. Ngài lưu tâm đến nhu cầu tinh thần và vật chất của
Dân Chúa, đặc biệt là các linh mục, những người cộng tác chăn dắt đoàn
chiên và truyền giáo cho lương dân.</p> 
<p style="text-align: justify;"><b>28. Lòng yêu Bí tích Thánh Thể và các linh hồn</b></p> 
<p style="text-align: justify;">Trong
thời gian làm cha xứ, sau giờ đọc kinh chung với giáo dân ban tối, ngài
thường ở lại chầu Thánh Thể rất lâu. Lúc bị mù loà hưu trí, ngài thường
ở trong nhà thờ suốt buổi chiều để cầu nguyện và chầu Thánh Thể. Tuy
vậy trước khi qua đời, ngài nói : “Ngày nào ra trước toà phán xét, tôi
chỉ sợ hai điều : một là khi còn sống đã không yêu phép Thánh Thể cho
đủ, hai là không hết tình cứu giúp các linh hồn nơi luyện ngục”.</p> 
<p style="text-align: justify;"><b>29. Tin tưởng vào hoạt động của Chúa Thánh Linh</b></p> 
<p style="text-align: justify;">Các
chủng sinh thỉnh thoảng đến thăm ngài, ngài thường nhắc nhủ : “ Khi
chúng con làm linh mục, chúng con phải làm cho bổn đạo biết và yêu mến
Chúa Thánh Thần, vì phải có ơn Chúa Thánh Thần mới giữ đạo được”.</p> 
<p style="text-align: justify;"><b>30. Lòng yêu mến Đức Mẹ</b></p> 
<p style="text-align: justify;">Từ
hồi niên thiếu, Đức Cha đã tỏ lòng yêu mến Đức Mẹ cách đặc biệt, ngài
năng đến cầu nguyện với Đức Mẹ tại nhà thờ xứ và hang đá Đức Mẹï, ngài
rất siêng năng lần hạt nhất là lúc về già, những khi rảnh rỗi, tay ngài
luôn cầm tràng hạt. Do lòng kính mến ấy đối với Đức Trinh Nữ Maria Vô
Nhiễm, Đức Cha đã chọn ngày lễ Sinh Nhật Đức Mẹ để khai sinh Hội Dòng
mới và đặt tên là Dòng Con Đức Mẹ Vô Nhiễm.</p> 
<p style="text-align: justify;">Khi
nhận được 2 huy chương do hai nước Pháp và Việt Nam trao tặng để ân
thưởng ngài, ngài đã có ý tưởng rất đẹp, vừa ngộ nghĩnh vừa biểu lộ
tình yêu của ngài đối với Đức Mẹ ở Paimpont, giáo xứ thân yêu của ngài.
Đức Cha đã gửi 2 huy chương về Paimpont nhờ cháu xin cha xứ đeo vào cổ
tượng Đức Mẹ và tượng Chúa Giêsu đặt trong nhà thờ xứ. </p> 
<p style="text-align: justify;">Với
tư cách vị chủ chăn của giáo phận, ngài sốt sắng tổ chức Đại Hội Lavang
và cho xây cất lại ngôi thánh đường Lavang rộng lớn hơn. </p> 
<p style="text-align: justify;"><b>31. Can đảm chấp nhận Thánh giá</b></p> 
<p style="text-align: justify;">Sự
nghiệp thừa sai của ngài nói lên lòng can đảm chấp nhận mọi thánh giá,
thử thách của người tông đồ. Nụ cười trên môi chứng minh lòng phó thác
giữa mọi gian truân thử thách khó khăn, vì ý thức rằng hạt lúa mì phải
thối đi để sinh bông hạt, và không tình yêu nào lớn lao hơn tình yêu
của người liều mạng sống vì kẻ mình yêu.</p> 
<p style="text-align: justify;">Thánh
giá cuối đời của ngài là mù hai mắt. Đối với ngài, một con người hăng
say hoạt động thì đó là một thử thách lớn. Ngài nói : “Chúa nhân lành
không thể nào gởi cho tôi một thánh giá nào lớn hơn nữa, xét theo tính
khí của tôi”. Ngài đã can đảm chấp nhận vui tươi, nhẹ nhàng trong suốt
6 năm. Ngài tận tụy trong nhiệm vụ đến tiêu hao sức lực thể xác, nhưng
những ngày hưu trí vẫn là chuỗi ngày hy sinh cầu nguyện cho công cuộc
truyền giáo của giáo phận. Ngài thường nói : “Điều quan trọng là cầu
nguyện và chịu đau khổ”.</p> 
<p style="text-align: justify;"><b>&nbsp;BÌNH DIỆN TÔNG ĐỒ </b></p> 
<p style="text-align: justify;"><b>32. Ưu tiên cho tân tòng</b></p> 
<p style="text-align: justify;">Đức
Cha Lý quả là một vị tông đồ nhiệt thành. Ngài tận tụy suốt đời, từ khi
là linh mục và trong suốt thời gian làm giám mục. Ngài luôn quan tâm
đến việc làm cho người lương trở lại, tìm những trẻ em bị bỏ rơi, hoặc
sắp chết để rửa tội. Ngài khuyến khích các linh mục đi đến với lương
dân. Ngài cung cấp tiền bạc, phương tiện dồi dào cho việc giảng dạy tân
tòng, dự tòng, thành lập các giáo xứ mới, xây cất các nhà nguyện và nhà
thờ...</p> 
<p style="text-align: justify;">Ngài
không tiếc tiền bạc trong việc truyền giáo. Dĩ nhiên đã có người lạm
dụng lòng tốt của ngài. Người ta thường trách ngài để người khác lợi
dụng, nhưng ngài trả lời : “Nếu phải tốn 1000 đồng để cho vài ba trẻ em
được chắc chắn lên Thiên Đàng thì không đáng làm như vậy sao?”. Các
linh mục chăm sóc tân tòng thường được ngài hỗ trợ nhiều về tài chính
vì ngài biết họ phải chi phí nhiều.</p> 
<p style="text-align: justify;"><b>33. Tông đồ bằng tình yêu</b></p> 
<p style="text-align: justify;">Tính
tình vui vẻ cởi mở của ngài rất thích hợp cho việc truyền giáo. Ngài
tiếp xúc với mọi hạng người một cách hồn nhiên và đầy lòng kính trọng
yêu mến như câu châm ngôn của ngài : “CHA YÊU THƯƠNG MỌI NGƯỜI”. Tâm
hồn mục tử của ngài được diễn tả trong huy hiệu Giám Mục bằng hình ảnh
Chúa Chiên Lành dẫn dắt đoàn chiên. Ngài yêu mến và muốn cho mọi người
được cứu rỗi, được nhận biết Chúa. Đó là động lực đức ái phát xuất từ
Thiên Chúa. Ngọn lửa yêu mến Chúa đã nung đốt tâm hồn ngài thúc đẩy
ngài hành động, và dùng mọi phương tiện để rao giảng Tin Mừng. “Ngọn
lửa nhiệt thành Nhà Chúa nung đốt tâm hồn tôi” (Tv 69, 10)</p> 
<p style="text-align: justify;">Dù
triều đình Việt Nam cấm cách bắt bớ, ngài vẫn tìm cơ hội truyền giáo
cho họ, nhờ thế một công chúa cháu vua Minh Mạng đã trở lại đạo công
giáo. Sau đó hai hoàng tử khác cũng trở lại và bị kết án tử hình. Đức
Cha phải can thiệp để xin chước giảm. Các quan trong triều đình cũng
tiếp tục chọn con đường theo Chúa.</p> 
<p style="text-align: justify;"><b>34. Tông đồ bằng cầu nguyện, hy sinh</b></p> 
<p style="text-align: justify;">Đức
Cha tin tưởng vào sức mạnh của lời cầu nguyện và sự hy sinh trong công
cuộc truyền giáo, thỉnh thoảng ngài kêu gọi các nữ tu ăn chay cầu
nguyện đặc biệt để xin ơn trở lại cho người nọ người kia. Ngài còn bảo
trợ việc thiết lập hai đan viện Carmel và Phước Sơn để làm hậu thuẫn
cho công cuộc truyền giáo (xem số 9)</p> 
<p style="text-align: justify;">Thời gian hưu trí của ngài cũng là những chuỗi ngày hy sinh cầu nguyện cho việc mở mang nước Chúa.</p> 
<p style="text-align: justify;">Đức
Cha đã để lại trong lòng mọi người hình ảnh một vị mục tử nhiệt thành,
vui tươi, hăng say trong việc loan báo Tin mừng Tình yêu của Chúa Cứu
Thế mà ngài đã hiến thân phụng sụ suốt đời như một tôi tớ trung thành.</p><br>
<i></i></td>
</tr>
</table>
<hr color="#DC0312" width="600">
<table border="0" cellpadding="0" cellspacing="0" width="600">
<tr>
<td align="center">URL của bản tin này::<a href="http://dongthanhtam.net/home/modules.php?name=News&op=viewst&sid=8">http://dongthanhtam.net/home/modules.php?name=News&amp;op=viewst&amp;sid=8</a></td>
</tr>
</table>
<hr color="#4D5764" width="600">
<table border="0" cellpadding="0" cellspacing="0" width="600">
<tr>
<td><font size="2">&copy; </font> <a href="http://dongthanhtam.net/home"><font size="2">...:: Dòng Thánh Tâm - Huế ::...</font></a></td>
<td align="right"><font size="2">contact: </font> <a href="mailto:dongthanhtam@gmail.com"><font size="2">dongthanhtam@gmail.com</font></a></td>
</tr>
</table>
</center>
</body>
</html>
