Cha vẫn chờ
31.03.2010 23:06
Chờ đợi nghĩa là nung nấu trong tim niềm hy vọng. Hy vọng là nhìn vào điều tốt đẹp trong tương lai; là không buông xuôi, cam chịu trong những nỗi dằn xé của quá khứ. Hy vọng cho người ta nguồn năng lượng để sống và thăng tiến.
Có lẽ không có ai trong chúng ta chưa từng nếm cảm
trải nghiệm về một sự chờ đợi nào đó trong cuộc đời.
Chờ
đợi nghĩa là nung nấu trong tim niềm hy vọng. Hy vọng là nhìn vào điều
tốt đẹp trong tương lai; là không buông xuôi, cam chịu trong những nỗi
dằn xé của quá khứ. Hy vọng cho người ta nguồn năng lượng để sống và
thăng tiến.
Chờ đợi cũng có nghĩa là tha thứ. Tha thứ để khiêm
tốn nhìn nhận sự yếu đuối, mỏng dòn của thân phận làm người, để chấp
nhận sự khác biệt của tha nhân và để được tự do hơn. Tha thứ cũng có
nghĩa là kết thúc cuộc nội chiến hỗn loạn trong tâm hồn; là thoát khỏi
gông cùm của những thù hằn, tự ái, kiêu căng; là cho người khác cơ hội
để được bắt đầu lại…. Trong tương quan giữa Thiên Chúa và con người,
giữa con người với nhau đều nhất nhất phải qua kinh nghiệm của sự tha
thứ.
Chờ đợi có nghĩa là cưu mang trong lòng một tình yêu thương.
Như bà mẹ kiên nhẫn, ấp ủ tình thương suốt 9 tháng 10 ngày để chờ đợi
đứa bé ra đời, tình yêu đó phải đủ lớn để hy sinh bản thân cho điều mình
đợi chờ. Yêu thương cũng có nghĩa là không xét nét việc đã làm, không
ưu tư chuyên tương lai. Yêu thương nghĩa là làm điều tốt nhất cho người
mình yêu.
*****
“Cha vẫn chờ!” là câu nói cương quyết
khẳng định tình yêu bao dung không lung lay, không thay đổi của người
làm cha trong vở kịch “Người Cha Nhân Lành” của tác giả quá cố Thầy
Phanxicô Trần Duy Nhiên, được diễn tại Hội Trường Đức Hồng Y Gioan
Baotixita Phạm Minh Mẫn, số 6bis Trung Tâm Mục Vụ, Tổng Giáo Phận Sài
Gòn do nhóm kịch Raboni diễn vào đêm tĩnh tâm ngày 26 tháng 03 năm 2010,
cùng với sự đồng hành Cha giảng phòng Gioan Baotixita Nguyễn Quang
Tuyến, một linh mục trẻ, năng động, khéo léo và sáng tạo của TTMV và ca
đoàn gồm 55 Thầy Đệ Tử Dòng Chúa Cứu Thế.
Vở kịch của nhóm Raboni
tạm ngưng ở bức tranh: một gia đình tan nát. Trái tim người Cha bị dằn
xé bởi tình thương dành cho hai đứa con. Ông đau xót nhìn tương quan Cha
con đổ vỡ, ngậm ngùi nhìn tình huynh đệ tương tàn. Người con cả ôm
trong lòng sự cay đắng vì cảm thấy bị Cha mình đối xử cách tệ bạc, bất
công. Anh căm ghét đứa em trai và cho nó là nguyên nhân làm đời anh trở
nên bi đát, tồi tệ. Hận thù biến anh thành một con người khác với cái
nhìn quất ức và ngôn từ hằn học, chói tai. Người con thứ mang tâm trạng
hối hận, bối rối và sợ sệt. Anh cảm thấy trở nên lạc lõng ngay trong
chính căn nhà của mình và trở nên thừa thải giữa Cha và anh trai.
Cha
Nguyễn Quang Tuyến mời gọi cộng đoàn hiến kế để tìm ra một kết thúc có
hậu hơn. Bốn tình nguyện viên nhanh chóng lên sân khấu, mỗi người tự
chọn cho mình một vai diễn trong dụ ngôn. Giờ đây, vở kịch không còn là
của Thầy Trần Duy Nhiên nữa, mà trở thành vở kịch của mỗi cá nhân, của
cuộc đời mỗi người. Giảng đường rộ lên những tiếng cười thú vị và những
tràng pháo tay tán thưởng qua cách diễn tự phát và không hề được hội ý
trước, dù chỉ một phút, của các diễn viên đóng thế vai. Cha giảng phòng
đã khéo léo phân chia, để bốn người đều có cơ hội thể hiện vai diễn của
mình trên sân khấu. Ngài nhẹ nhàng đưa các diễn viên nghiệp dư không đi
quá xa sân chơi/ đề tài. Tuy nhiên, giải pháp mà các diễn viên đóng thế
đề ra vẫn chưa đủ sức làm đổi màu cho bức tranh gia đình của người Cha
nhân hậu. Và vì thế, nhóm kịch Raboni trở lại sân khấu và gửi đến khán
giả một cách giải quyết thấu lý đạt tình.
Sợi chỉ xuyên suốt
chiều dài vở kịch là Tình Thương. Đó là phương cách duy nhất khắc phục
sự đổ vỡ do cá tính mỗi người gây ra cho đồng loại. Tình thương làm cho
con người đến gần nhau hơn và trở nên ý nghĩa hơn. Trước mặt Thiên Chúa
và trong tương quan giữa con người, Tình Thương mang một giá trị vĩnh
hằng.
Phần cuối buổi Tĩnh Tâm, Cha Giảng phòng mời gọi cộng đoàn
tiến lên khán đài, tự thắp sáng cây nến đời mình bằng lửa Phục Sinh.
Ngài mời gọi mọi người đến gần Thánh Giá hơn, để lại những đinh sắt, sỏi
đá của đời mình và tiếp nhận nguồn mạch của Tình yêu và sự sống.
Trước
cử toạ gaàn 700 tham dự viên, nhóm kịch Raboni đã phác họa lại trang
sách của Thánh sử Luca về lòng thương xót của Thiên Chúa đối với con
người. Dụ ngôn thật tuyệt hảo đã làm nổi bật lòng từ bi vô biên của
Thiên Chúa – Đấng là Cha của toàn thể nhân loại. Dụ ngôn cũng gieo vào
lòng chúng ta niềm hy vọng vô bờ về sự được tái tiếp nhận, được thứ tha
và được yêu thương khi tội nhân biết hồi tâm trở về. Dụ ngôn còn là giáo
huấn cho các Kitô hữu về cách hành xử ở đời với nhau. Trong những góc
tối của tâm hồn, chúng ta từng có dịp trực diện với chính bản thân mình
để nhìn thấy những ích kỷ, nhỏ nhen len lỏi trong tâm trí; những thờ ơ
vô cảm tồn tại trong tim; những ác độc tinh vi ẩn mình trong ngôn từ
dành cho nhau… Can đảm đối diện với chính mình, để chúng ta biết khoan
hồng với tha nhân, với các anh chị em kém may mắn. Hành động xót thương
đồng loại luôn là hành động được Thánh Linh soi sáng và luôn làm đẹp
lòng Thiên Chúa.
Các diễn viên trong nhóm kịch Raboni đã hoá thân
trong từng vai diễn, lột tả được tương quan cha con, anh em trong đời
sống gia đình. Lời thoại mang ngôn ngữ đương thời và hàm ý sâu sắc đã
diễn đạt nỗi đau đớn của người Cha và những cuộc chiến nội tâm gay gắt
đang diễn ra nơi mỗi người con.
Người con thứ muốn thoát ly khỏi
mái ấm gia đình, muốn đập tan vỏ trứng đã ấp ủ, bảo vệ anh ta suốt bao
năm qua để đập cánh bay xa, thoả lòng phiêu du nơi chân trời xa lạ, vui
hưởng tháng ngày tự do rong chơi. Anh muốn ra đi để tìm kiếm một điều gì
đó, mà anh gọi là “Tình người” – Thứ tình mà anh đui mù không thấy nó
đang hiện hữu ngay trong chính ngôi nhà của mình. Thứ tình mà anh đang
chà đạp khi khăng khăng đòi cha chia gia sản và khi vô ơn với những hy
sinh của người thân. Khi anh không thấy tình người trong gia đình, thì
dẫu có đi khắp cùng mặt đất cũng chẳng thấy gì. Anh muốn tự định đoạt
cuộc đời mình, muốn khẳng định chính mình, muốn được thừa nhận. Với anh,
gia đình là nhà tù đang giam hãm, ngăn cản anh vươn tới một chân trời
hạnh phúc. Với anh, cha là nguồn chi cho những kế hoạch đã được toan
tính kỹ càng… Anh đã chẳng chút do dự, ưu tư gì khi bước chân ra khỏi
nhà.
Ngắm nhìn khuôn mặt của người con thứ, ta khám phá ra dung
mạo của chính mình trong tương quan với Chúa, với gia đình và với anh em
đồng loại. Có lẽ ta cũng đang mãi mê chạy theo một điều phù phiếm nào
đó, mà dẫm đạp lên lòng tốt và sự hy sinh của người khác. Ta học ở đời
những bài học hành xử làm người, nhưng cơ hồ đó chẳng phải là điều ta
sống với ông bà, với cha mẹ, với anh chị em trong nhà. Ta cũng đã từng
phải trả giá đắng cay vì lỡ không sòng phẳng với đời, nhưng đâu có bao
giờ ta phải trả giá vì không sòng phẳng với mẹ cha…Ta quá vô ơn khi xem
gia đình là một trong số những thứ mà hiển nhiên ta có. Ông bà, Cha mẹ,
anh chị em là gia nghiệp đã dọn sẵn cho ta, từ khi ta hãy còn chưa hiện
hữu. Có phải vì thế mà những điều quá đỗi thiêng liêng lại trở nên rất
bình thường? Tự do cá nhân, lòng ích kỷ hẹp hòi và những ham hố riêng tư
đã khiến ta đóng mắt, khép lòng trước những ân tình cao cả, trong đó có
ân tình của Đấng thiêng liêng đã tạo dựng nên ta.
Có lẽ chẳng
có điều gì xảy ra và câu chuyện chỉ dừng lại ở sự chờ đợi mỏi mòn của
người cha trông ngóng đứa con hoang đàng trở về, nếu chẳng có một ngày
người con thứ rơi vào cơn túng thiếu và bị cái đói đe doạ mạng sống…
Trên
con đường thiêng liêng, cũng đã có lần ta muốn rời xa Chúa, để tìm cho
mình một hướng đi riêng tư. Xa Cha, người con thứ đã mất dần tư cách làm
con. Mặc cảm tội lỗi khiến anh e ngại với tình phụ tử thiêng liêng. Ra
đi, anh không chỉ hoang phí phần gia sản của mình, mà còn làm nghèo
chính bản thân. Trong tình trạng bần cùng và khốn khó, anh chỉ muốn được
trở về và làm đầy tớ ngay trong chính ngôi nhà của mình. Điểm sáng của
anh là sự hối hận chân thành. Giọt nước mắt ăn năn minh chứng lòng khiêm
tốn thống hối. Hoán cải bao giờ cũng khó. Hẳn anh đã phải rất can đảm
mới dám trở về. Tự trong thâm sâu của trái tim, anh biết rằng nơi đó Cha
vẫn chờ anh quay về…. Có lẽ trong đời sống thiêng liêng, không ít lần
ta đã từng kinh qua những xáo trộn nội tâm, những nghi ngờ giày xé trước
mỗi lần đứng dậy, trở về. Mang thân phận yếu đuối, mỏng dòn ta cứ mãi
làm những cuộc ra đi và trở về như thế. Giống như anh, ta bị bất ngờ
trước tình thương vô biên, vô điều kiện của Đấng là Cha.
Trang
sách của Thánh Luca còn tường thuật lại tiến trình trưởng thành trong
đời sống đức tin. Nếu người con trai thứ không trải nghiệm thế nào là
đói, thế nào là rét, thế nào là bị lường gạt, phỉ nhổ, xua đuổi… thì có
lẽ anh sẽ không có cơ hội để cảm nghiệm tình Cha mênh mông và cũng không
xây dựng được mối tương quan với Cha một cách có ý thức hơn. Trong con
mắt đức tin, mỗi biến cố mà Thiên Chúa cho phép xảy ra trong cuộc đời
đều giúp ta lớn lên và gắn bó với Ngài cách sâu đậm hơn.
Hai
người con trong câu chuyện của Thánh Luca biểu lộ hai tính tình khác
nhau nhưng họ giống nhau ở một điểm, đó là không thích gần Cha mình. Với
người con cả, Cha anh là một ông chủ hà khắc, chẳng bao giờ cho mình
cái gì. Anh đảm nhận công việc trong nhà với cách của một người làm công
hơn là một người con cả. Với anh, con bê nhỏ dường như trở nên quá to
lớn đến nổi anh chẳng hiểu được tất cả những gì của Cha anh đều là của
anh. Người con trai thứ thích ra khỏi nhà của Cha để rong chơi theo
những sở thích riêng tư. Người con trai cả ở lại trong nhà Cha, nhưng
tâm trí đã phiêu lưu xa nhà. Thế nên, xa cách không nhất thiết phải ra
khỏi nhà và xa nhau không nhất thiết phải đi cho khuất bóng.
Soi
mình trong trang Tin Mừng ta lại khám phá ra chính mình trong cách hành
xử của người con cả. Ta làm các bổn phận đạo đức đầy đủ như thể để đảm
bảo cho mình vị trí của một gia nhân trong nhà của Cha ở trên trời.
Tương quan Cha con bị đóng băng bởi sự sợ hãi vô hình khiến ta luôn co
rúm người lại.
Như người con cả, ta khó lòng chấp nhận sự yêu
thương ưu ái của Cha dành cho một đứa em hoang phí gia sản trở về.
Như
người con cả, ta không đủ yêu mến để mở lòng ra đón nhận anh em quay về
và không đủ độ lượng để cho người khác một cơ hội.
Sự ra đi của
người con thứ hay sự sợ hãi của người con cả đều làm cho trái tim của
người Cha nhân lành rướm máu. Khi chấp nhận cho người con thứ ra đi, có
lẽ ông đã biết có một ngày nó sẽ quay về. Ông không dùng tình thương như
sợi dây trói buộc tự do của đứa con. Cái ông cần ở nó là trái tim yêu
thương, nhưng trái tim đó đã rẫy đi xa, trước khi chân nó kịp bước ra
khỏi nhà.
Có sự đổ vỡ nào đó trong gia đình của người Cha nhân
hậu này. Sự đổ vỡ mà nhắc nhớ chúng ta về sự gãy đỗ đầu tiên ở Vườn Địa
Đàng, trong tương quan giữa Thiên Chúa và con người. Thiên Chúa giàu
lòng nhân hậu đau xót và thương nhớ những đứa con hoang đàng của mình.
Ngài không để lại một bức tranh buồn thảm về hình ảnh tương quan Cha con
đổ nát. Ngài gửi con một của mình, Chúa Giêsu, xuống thế làm người,
kiên nhẫn nhặt nhạnh và hàn gắn từng mảnh vỡ tương quan đó. Tự bao giờ,
Thiên Chúa vẫn yêu thương và chờ đợi sự hồi tâm mỗi người chúng ta trong
cuộc lữ hành trần thế này. Mỗi sự quay về của tội nhân đều minh chứng
cho tình yêu và sức mạnh của ơn Thánh.
Bài dụ ngôn của Thánh Luca
cũng gợi lên nỗi đau thời thế, bi kịch trong các gia đình ngày nay.
Lời
thoại của nhân vật người Cha trong vở kịch như một lời nhắn gửi đến các
bậc làm cha làm mẹ trong xã hội đương đại đang đau lòng vì những đứa
con thân yêu: “Không một nỗi khổ nào là nỗi khổ vô ích cả! Tình thương
đôi khi bắt buộc mình phải để cho người mình thương chịu khổ.” Niềm đau
của người làm cha làm mẹ mãi mãi là có những đứa con không hiểu được
tình yêu của mình đối với nó. Những kẻ làm con có tự do từ chối quyền
làm con, nhưng người làm cha mẹ khó lòng mà chối bỏ máu mủ của mình.
Trong những cuộc rong chơi, kẻ làm con có thể không biết cha mẹ lo lắng,
đau khổ thế nào, nhưng lòng người làm cha mẹ luôn sợ hãi cho sự an nguy
của đứa con.
Thực tế trong xã hội ngày nay, đôi khi ta bắt gặp
những đứa hoang đàng không được đón chào khi quay về. Cái gọi là danh dự
gia đình và sợ tiếng thị phi đã ngăn cản sự hàn gắn đôi bên và khoét
sâu thêm vết thương lòng của nhau. Đối lập với cách ứng xử ấy, người Cha
Nhân Lành trong dụ ngôn không hề ngần ngại khi đón nhận lại đứa con của
mình. Tình thương của người Cha ấy vượt lên trên những lỗi phạm của đứa
con và thương tổn của bản thân. Ông luôn muốn là người đầu tiên nhìn
thấy con mình trở về. Ông luôn muốn là người đầu tiên ôm chầm lấy nó
trong cuộc tái sinh này. Ông đã đợi chờ để yêu thương và chúc phúc cho
con.
Giả như người con thứ vẫn bặt tăm vô tín, chắc chắn rằng
người Cha nhân hậu ấy vẫn tựa cửa chờ con với trái tim bao dung và tình
yêu vô biên ấm nồng.
Hạt Cát -------------------------------- (Theo VietCatholic News) |