Bài giảng của Đức TGM Huế trong Thánh Lễ Làm Phép và Thánh Hiến Dầu năm 2010 tại Nhà Thờ Chính Tòa Phủ Cam
02.04.2010 17:45
Kính thưa cộng đoàn,
Bài đọc I trích ngôn sứ Isaia, chúng ta lưu ý câu nầy: “Anh em sẽ được gọi là tư tế của Đức Chúa, người ta sẽ gọi anh em là “người phụng sự Thiên Chúa chúng ta” (Is. 61,6a).
1.
Bài đọc II trích sách Khải huyền, cũng có một câu tương
tự: “Đức Giêsu Kitô đã yêu mến chúng ta, và lấy máu mình rửa sạch
tội lỗi chúng ta, làm cho chúng ta trở thành vương quốc và hàng tư tế để phụng sự Thiên Chúa”.
Ý chính trong
hai câu đó, là nhấn mạnh đến chức tư tế cộng đồng, chức tư tế của tất cả
các tín hữu đã nhận phép rửa tội (thánh tẩy).
Điều nầy, thánh Phêrô còn nói rõ hơn nữa rằng: “Anh em là
dòng giống được tuyển chọn, là hàng tư tế vương giả, là dân
thánh, dân riêng của Thiên Chúa, để loan truyền những kỳ công của Người,
là Đấng đã gọi anh em ra khỏi miền u tối, vào nơi đầy ánh sáng diệu
huyền” (1Pr. 2,9).
Chúng ta biết
rằng, chỉ một mình Đức Kitô có chức Tư tế viên mãn, là vị Thượng tế, vì
Người là Đấng Trung gian duy nhất giữa Thiên Chúa và loài người.
Các kitô hữu đều được tham dự vào chức tư tế của Chúa Kitô, nhờ
phép rửa tội (thánh tẩy), để có thể phụng thờ Thiên Chúa và dâng của lễ thiêng liêng lên Thiên Chúa, kết hiệp với lễ tế
của Chúa Giêsu. Của lễ thiêng liêng đó là trọn cuộc sống mình với tất cả
vui buồn, khổ đau và hy vọng, với tất cả công ăn việc làm..., cũng như
tất cả những mối tương quan bạn bè, nghề nghiệp v.v... Mỗi kitô hữu là tư tế và hết mọi kitô hữu làm thành hàng tư tế.
Các giám mục, linh mục, tu sĩ cũng tham dự vào chức tư tế cộng
đồng đó như các kitô hữu khác.
Nhưng các giám mục và linh
mục còn lãnh nhận chức thánh, là chức tư tế thừa tác, với mục đích phục
vụ chức tư tế cộng đồng, để người tín hữu có thể thi hành, có thể sống
chức tư tế cộng đồng một cách hữu hiệu và phong phú.
2. Bài Phúc âm trích Tin mừng theo
thánh Luca (Lc. 4, 16-21):
“Thần Khí Chúa ngự trên tôi,
vì Chúa đã xức dầu tấn phong tôi,
để tôi loan báo Tin mừng cho kẻ nghèo hèn,
công bố cho kẻ giam cầm biết họ được tha,
cho người mù biết họ được sáng mắt,
trả lại tự do cho người bị áp bức,
công bố năm hồng ân của Chúa”.
Đây là những lời của ngôn sứ Isaia mà Chúa Giêsu đem áp dụng
cho chính mình và sứ vụ cứu thế của mình.
Ngài công bố
những lời đơn sơ mà uy nghi ấy khiến dân chúng trong hội đường nín thở,
hồi hộp, nao nức, phấn khích.
Trong cuộc đời mình, Chúa
Giêsu đã rao giảng và làm phép lạ cho một số người, chứ không phải cho
tất cả: một số người mù được sáng, người câm được nói, người què được
đi, người chết được sống lại, người bị quỷ ám được giải thoát tự do...
Hầu hết các phép lạ Chúa Giêsu làm đều là những “dấu chỉ”,
nghĩa là chỉ về ý nghĩa của phép lạ, chứ không dừng lại ở điều kỳ lạ và
giật gân. Những lời Chúa Giêsu nói trong hội đường chỉ về sự giải thoát
tâm hồn, giải thoát con người khỏi những xiềng xích vô hình của Satan
và tội lỗi, khiến con người bị nô lệ, bị tha hóa trong những đam mê, dục
vọng, tham lam, kiêu căng, hận thù, làm hạ phẩm giá và vinh quang của
con người vốn được dựng nên giống hình ảnh Thiên Chúa.
Chẳng hạn phép lạ hóa nước thành rượu trong tiệc cưới Cana là “dấu
chỉ” về Giao ước tình yêu giữa Thiên Chúa và con người, như rượu
ngon đem lại niềm vui tràn trề. Ngôn sứ Isaia nói đến hậu quả của việc
dân bất trung với Giao ước rằng: “Sẽ không còn tiệc cưới, không còn
rượu nữa, vì dân chúng vi phạm các điều luật, không tuân lệnh Chúa
truyền, và phá vỡ giao ước tình yêu” (Is. 24,5).
Dân chúng thời bấy giờ đang mong đợi Đấng Messia, Đấng Cứu Thế,
nhưng đại đa số trông đợi một Đấng cứu thế chính trị, nghĩa là một vị
lãnh tụ uy quyền, đằng đằng sát khí, dẫn đầu dân Israel đánh đuổi bọn đế
quốc Rôma xâm lược, để thiết lập triều đại công lý và hòa bình vĩnh
viễn.
Nhưng Chúa Giêsu không đáp ứng mong đợi của họ.
Ngài cứu thế bằng con đường khó nghèo, rày đây mai đó: “Chim có tổ,
chồn có hang, con người không nơi gối đầu” (Lc. 9,58), bằng con đường chông gai, nhạo báng, dèm pha, ngược đãi của các
luật sĩ và Pharisêu, cuối cùng bằng con đường thánh giá.
Ngày Lễ Lá, người ta hoan hô rước Ngài vào thành Giêrusalem, và
người ta tưởng là đã đến lúc Ngài làm vua thống trị, theo cách họ mơ
ước.
Nhưng giấc mơ của họ tan tành, họ hoàn toàn vỡ
mộng. Vậy là họ phải khai trừ Ngài đi thôi.
Cuộc đời cứu
thế của Ngài kết thúc bằng cái chết treo trên thập giá, như một tên gian
ác, bị binh lính Rôma hành quyết, những kẻ mà dân chúng nghĩ rằng, Ngài
phải đánh đuổi, sát phạt không thương tiếc.
3. Anh chị em thân mến,
Chúng ta bắt đầu đi vào Tam Nhật Thánh cử hành tình yêu hải hà
của Chúa Giêsu.
Ngài đã xuống tận cùng sự
khốn khổ của con người, để đặt vào đó tình yêu của Ngài, như thế, Ngài
vạch ra một lối thoát, và đem lại ơn cứu độ cho họ. Ngài làm cho thương
khó và sự chết trở thành cơ hội để bày tỏ lòng yêu mến tột đỉnh của
Ngài. Và như vậy, Ngài trở nên vị linh mục Thượng Phẩm, bởi vì Ngài mở
ra con đường của Giao ước mới, con đường đưa loài người tội lụy đến hiệp
thông cùng Thiên Chúa.
Sứ vụ của Chúa Giêsu là
mạc khải và thể hiện lòng thương xót vô cùng của Thiên Chúa đối với loài
người, nhất là đối với tội nhân, đối với những người bé mọn, bệnh tật,
quỷ ám, bị ruồng rẫy bỏ rơi v.v...
Ngài chống lại
tội lỗi mà vẫn thương yêu tội nhân. Thay vì chống lại tội nhân như các
tư tế trong Cựu ước, Chúa Giêsu vác lấy trên vai mình gánh nặng số mệnh
của họ, để giải thoát họ khỏi tội lỗi.
Ngài đón nhận
tất cả lỗi lầm của chúng ta, lỗi phạm của tất cả tội nhân. Thậm chí Ngài
mang lấy khổ hình của các tội phạm nặng nề nhất, đó là chết trên thập
giá.
Như thế, Ngài biến thương đau thành phương tiện,
để làm sung mãn tình yêu, và bằng cách đó, Ngài chiến thắng tội lỗi và
sự chết cho chúng ta.
Thật là một điều an ủi phi
thường. Chúng ta thấy rằng, mỗi người chúng ta dù tội lỗi đến đâu, mỗi
khi chịu đau khổ vì chính tội lỗi của mình, cũng có thể cảm nhận được sự
hiện diện của Chúa Giêsu bên cạnh mình. Những tội phạm tồi tệ nhất cùng
bị treo trên thập giá hai bên Chúa Giêsu cũng được xót thương. Và cửa
thiên đàng sẵn sàng mở ra cho họ, miễn là tỏ một cử chỉ thống hối đơn sơ
như người “trộm lành” trong Phúc âm: “Lạy Thầy Giêsu, khi
Thầy vào Nước của Thầy, xin hãy nhớ đến tôi cùng” (Lc. 23,
39-43).
4. Anh em
linh mục thương mến,
Trong bữa Tiệc Ly, Chúa
Giêsu lập phép Thánh Thể, trở thành tấm bánh bẻ ra cho muôn người, rồi
Ngài truyền cho các tông đồ rằng: “Anh em hãy làm việc nầy mà nhớ
đến Thầy”.
Làm việc nầy không chỉ là
cử hành Thánh lễ, nhưng còn làm như Chúa Giêsu, là bẻ chính mình ra và
trao cho các tín hữu trong yêu thương, phục vụ, hy sinh tận tình. Hy
sinh chịu khó, dù gặp bao nhiêu thử thách trong cuộc sống và sinh hoạt
mục vụ, nhiều khi đắng đót trước những lời nói xúc phạm, những chống đối
từ nhiều phía.
Anh em hãy hóa giải những
thứ ấy, bằng cách làm như Chúa Giêsu trong cuộc thương khó và tử nạn, đó
là cầu nguyện cho họ và biến tất cả thành tình yêu tha thứ, mang đến ơn
cứu độ.
Chúng ta là người tông đồ dùng miệng lưỡi
rao giảng Chúa Giêsu. Đây là khía cạnh hoạt động. Nhưng luôn nhớ: mình
cũng là lỗ tai của người môn đệ biết lắng nghe, ngoan ngoãn, sống
mật thiết và noi gương Thầy chí thánh. Đây là chiều kích chiêm niệm.
Tông đồ và Môn đệ, Hoạt động và Chiêm niệm xoắn xuýt quyện vào nhau. Lời
ngôn sứ Isaia thì thầm bên tai chúng ta mỗi ngày:
“Đức Chúa là Chúa Thượng,
đã
cho tôi nói năng như người môn đệ,
để tôi biết
lựa lời nâng đỡ những ai rã rời kiệt sức.
Sáng sáng Người đánh thức tôi,
để tôi lắng nghe như một người môn đệ” (Is.
50,4). Amen.
†
Stêphanô Nguyễn Như Thể
Tổng
Giám Mục Huế
† Stêphanô Nguyễn Như T -------------------------------- (Theo tonggiaophanhue) |