ĐỨC CHA EUGÈNE MARIE JOSEPH ALLYS PHẦN III
02.08.2009 00:56
Các kỳ Đại Hội Đức Mẹ La Vang
Do ý thức trách nhiệm nặng nề và những đóng góp lớn lao cho nhà Mẹ, có thể nói Đức Cha Allys là đứa con cả của Đức Mẹ La Vang. Tất cả những gì tốt nhất, có được ngài đều dành cho Mẹ. Nếu không xuất phát từ tấm lòng thảo kính, niềm tin yêu vô hạn Đức Mẹ La Vang thì Đức Cha đã không xây dựng một đền thánh nguy nga nơi hoang địa, một nơi chỉ có số tín hữu thưa thớt, chưa bao giờ được xem là một giáo xứ, chưa hề có linh mục quản xứ.
Hơn thế nữa, Đức Cha hết sức quan tâm các cuộc hành hương viếng Mẹ : Những cuộc kiệu Minh Niên, những ngày lễ Đức Mẹ quanh năm, những nhóm, đoàn hành hương riêng lẻ. Đặc biệt là những kỳ Đại Hội theo định lệ 3 năm 1 lần (có từ thời Đức Cha Caspar), Đức Cha tổ chức thật chu đáo và chính ngài đã nâng tầm các cuộc Hành Hương Đại Hội Đức Mẹ La Vang từ cấp địa phận lên cấp quốc gia (toàn quốc)
Trong
23 năm cai quản Giáo Phận Huế, Đức Cha Allys đã tổ chức tất cả 6 kỳ Đại
Hội La Vang : từ Đại Hội 4 (1910) đến Đại Hội 9 (1928), mỗi kỳ đều có
nét độc đáo riêng. Đại Hội La Vang lần 6 (1917), ĐứcCha Allys nhận thấy
thời gian một ngày cho mỗi kỳ đại hội 3 năm một lần là quá ngắn, không
thể thoả mãn tâm nguyện khách thập phương khi hành hương viếng Mẹ. Vì
vậy từ Đại Hội 6, Đức Cha sửa đổi thời gian thành 3 ngày, gọi là TAM
NHẬT :
Ngày thứ
nhất tại La Vang có các cha ngồi toà, có lễ hát trọng thể, giảng và
chầu Mình Thánh Chúa. Ngày thứ hai có rước kiệu Thánh Thể do Đức Cha
Allys chủ lễ. Ngày thứ 3 bắt đầu cuộc rước kiệu Đức Mẹ từ Cổ Vưu vào La
Vang như định lệ. Từ đó, các cuộc hành hương La Vang có truyền thống 3
năm một lần. Đại Hội La Vang lần 9 (1928) là đại hội đầu tiên có tính
toàn quốc, đồng thời có sự hiệp thông của ba nước Đông Dương, và đại
hội sau cùng thời Đức Cha Allys. Năm sau, Đức Cha Allys già yếu xin Toà
Thánh nghỉ hưu.
16. Những năm tháng cuối đời
Sức
khỏe Đức Cha càng ngày càng yếu, thân hình mảnh khảnh, nhưng nụ cười
luôn nở trên môi. Con mắt ngài mờ đi rồi mù hẳn. Đây là một thử thách
lớn đối với ngài. Nhưng ngài chấp nhận cách dũng cảm, vui tươi nhẹ
nhàng.
Năm 1930, Toà Thánh ban phép cho ngài chọn một Giám Mục Phó là Đức Cha Chabanon. Năm 1931, ngài từ nhiệm vì mắt đã mù hoàn toàn.
Trong
5 năm hưu trí, ngài tận tình nâng đỡ các linh mục. Cũng như trong quá
khứ, cửa nhà ngài luôn rộng mở đón tiếp mọi người. Hằng ngày có nhiều
người đến thăm, từ quan lại đại thần Việt-Pháp cho tới những người
thường dân, giáo hữu và lương dân, Đức Cha đều đón tiếp niềm nở. Các
chủng sinh, tu sĩ cũng năng đến thăm ngài và nhận lời bảo ban trong
tình cha con. Ngài thường kể lại những biến động chính trị, tôn giáo
trong nước từ năm 1885 như là một nhân chứng còn sống sót.
Những
năm vì bệnh, ít hoạt động, ngoài thì giờ tiếp khách, ngài thích ở nhà
nguyện, chầu Thánh Thể, lần hạt cầu nguyện cho các nhu cầu của Giáo
phận.
17. Cái chết lành thánh
Đầu
tháng 4.1936 một cơn mệt khác thường xảy đến, báo trước cuộc hành trình
của ngài trên trần thế sắp chấm dứt. Ngày 09.4.1936 thứ 5 Tuần Thánh,
Đức Cha Chabanon chủ toạ Thánh Lễ làm Phép Dầu, có chừng 30 linh mục
tham dự, và sau đó ban Bí tích Xức Dầu bệnh nhân cho Đức Cha Allys. Vừa
dứt lời nguyện Đức Cha già đưa mắt nhìn các linh mục đang đứng xung
quanh giường ngài, ngài xin lỗi các linh mục có mặt cũng như vắng mặt,
miệng ngài thì thào câu :“Combien Je Vous aime tous” (Cha thương mến
chúng con tất cả ) .
Đó
là lời cuối cùng của vị mục tử nói với đoàn chiên và cũng là câu châm
ngôn Giám Mục của Ngài : “Diligo omnes” (tôi thương mến mọi người), mà
ngài đã thực hiện bằng cuộc sống xả thân của ngài.
Sáng
ngày 23.4.1936, Đức Cha được an ủi gặp lại người bạn cũ là Đức Cha
Marcou, Giám Mục giáo phận Phát Diệm, và trưa hôm đó lúc 11giờ ngài nhẹ
nhàng trút hơi thở cuối cùng trong tay Chúa và Mẹ Maria Vô Nhiễm.
Đám
tang diễn ra ngày 27.4, có 5 vị Giám Mục là các Đức Cha : Marcou,
Gouin, Tardieu, Jannin và Đức Cha Cẩn cùng nhiều linh mục tu sĩ từ
những giáo phận khác đến tham dự. Đại diện chính quyền Việt Nam là cụ
Thái Văn Toản và chính quyền Pháp là ông Grafffeuil cùng nhiều viên
chức khác. Khi còn sống ngài đã xin tổ chức đám tang thật đơn sơ, không
vòng hoa, không điếu văn, không dàn chào. Đức Cha Marcou cử hành Thánh
Lễ Đại Triều và tiễn đưa người bạn Giám Mục của mình đến nơi an nghỉ
cuối cùng tại nghĩa địa các linh mục ở Phủ Cam. Đức Cha Allys hưởng thọ
84 tuổi với 61 năm linh mục trong đó có 28 năm là Giám Mục. Đời ngài,
giáo phận Huế được thịnh vượng, bình an nhất. Giáo dân thường gọi ngài
là Đức Cha Già. Tên việt ngài là Đức Cha Lý. Người lương gọi ngài là
“Ông Tiên bên đạo”, vì gương mặt ngài hiền từ, dễ thương, lại có bộ râu
trắng dài, giống ông tiên trong các hình vẽ.
Nghe
tin Đức Cha Allys qua đời, chí sĩ Phan Bội Châu bấy giờ bị giam lỏng ở
Bến Ngự (Huế), là bạn của Đức Cha, có bài văn tế khóc Đức Cha, đăng
trong báo Tiếng Dân ngày 25.5.1936 với những lời bi thiết như sau :
Gương đạo nghĩa vẫn soi lòng bác ái,
Múi tinh thần càng nhớ bậc tiên tri.
Thống duy ! Đức Cha Lý xưa !
Sao chói trường canh
Đèn khêu thượng trí.
.................................
Lòng yêu người nào kể trắng hay vàng, xem họ
Pháp Lan Tây chung cùng dòng Việt.
Nửa thế kỷ choảng vang chuông đạo Chúa, mở miệng người câm,
Xoi tai người điếc, những ước ao beo cọp hoá tường lân.
.................................
Ư ngày nay nhắc tới ngày xưa, tiếng ngọc vài lời, mùi thân ái còn say tới não.
Ai ngờ gần mới,
Bỗng chốc được tin :
Trên thiên đàng vội rước Ngài lên.
Giữa trần thế ai là Cha nữa?
.................................
Nỗi cảm tình riêng cũng khóc thương thầm, tưởng câu “thất nhĩ nhân hà”, nợ thay bạn xin chung lời điếu
“Thốn tâm, thiên cổ” gọi rằng “tri tử giả ái”
“Tứ hải nhất giai”, dám chắc “hữu cầu tắc ứng”.
(Trích trong “Phan Bội Châu toàn tập”, NXB Thuận Hoá, Huế, 1990, tập VI, trang 341-342)
Ngày 06.8.1986, mộ ngài được cải táng về nghĩa trang Thiên Thai Huế.
Dòng Thánh Tâm --------------------------------
|