Rss Feed

Trang nhất » Tin Tức » Giới thiệu » Đấng sáng lập

Tiểu sử Đấng sáng lập EUGÈNE MARIE JOSEPH ALLYS

Thứ hai - 01/11/2010 10:03
Đức cha Allys Lý

Đức cha Allys Lý


9. Đức Cha Allys sáng lập Dịng Con Đức Mẹ Vô Nhiễm – Phú Xuân

Nỗi ưu tư dai dẳng

    Đức Cha Allys vẫn luôn canh cánh bên lòng mối ưu tư về lớp trẻ cần được giáo dục trong đức tin và thăng tiến về văn hoá. Dưới sự hướng dẫn của Chúa Thánh Linh, ngài thấy cần đáp ứng nhu cầu khẩn thiết của giáo phận trước cánh đồng truyền giáo đang lên phơi phới sau khi bão tố cấm cách đã tạm yên.

    Năm 1919, giáo phận Huế đã có nhiều trường giáo xứ hơn trước, nhưng thiếu giáo viên được huấn luyện chu đáo. Đức Cha có ý định tổ chức một trường sư phạm, đào tạo nữ giáo viên dạy giáo lý và chữ nghĩa ; rồi sau sẽ thành một Hội Dòng mà ngài gọi là Trường Sư Phạm nữ tu bản quốc (Archives des MEP - Comte rendu 1920-1921 trang 6). Trong tờ phúc trình gởi về Trung Ương Hội Truyền Giáo Balê, ngài viết : “Vì mục đích nâng cao trình độ các giáo viên, nhờ sự giúp đỡ quảng đại của một phụ nữ Việt Nam, tôi đã xây được một trường đào tạo các giáo viên tương lai của chúng tôi, tất cả sẽ là nữ tu” (Archives des MEP compte rendu 1919-1920 trang 6-9) (12  Xem Tam Bách Chu Niên Dòng Mến Thánh Giá trang 19)
 
Ngày lịch sử

    Chúa quan phòng đã sắp đặt mọi sự với lòng ưu ái để đón chờ ngày chào đời của Hội Dòng Con Đức Mẹ Vô Nhiễm từ lòng đất mẹ mà ra, góp nhặt tinh hoa của “các thế hệ nữ tu có tính cách hoàn toàn dân tộc” (13  Xem sử liệu Dòng Con Đức Mẹ Vô Nhiễm, quyển 1 trang 9).

    Chiều ngày 07.9.1920 đáp lại lời mời gọi của Đức Cha Lý và với sự tự do lựa chọn của mình, 6 chị Mến Thánh Giá: Catarina Liễu, Anna Thay, Agatha Thường, Anê Trông, Madalêna Quế và Maria Hạn rời Phước Viện Dương Sơn, đặt chân lên đất Phú Xuân, âm thầm và nhỏ bé, nhưng đầy hứa hẹn như sự xuất hiện của một mầm sống mới[]. Các chị đã bắt chước Tổ Phụ Abraham xưa, đi theo tiếng gọi của Thiên Chúa: “Hãy bỏ quê hương... để đến miền đất Ta sẽ chỉ cho” (St 12, 1). Hôm ấy là ngày áp lễ Sinh Nhật Đức Mẹ, chắc hẳn Đấng Sáng Lập muốn gắn liền ngày khai sinh Hội Dòng Con Đức Mẹ Vô Nhiễm với lễ kính ngày sinh của Đấng mà ngài muốn họ nhận làm Mẹ riêng của mình. Thánh lễ sáng ngày 08.9.1920 do cha Chabanon cử hành, một sự trùng hợp đầy ý nghĩa, thế nên lễ sinh nhật Đức Mẹ 08.09.1920 là một ngày lịch sử, ngày khai sinh chính thức Hội Dòng Con Đức Mẹ Vô Nhiễm.

    Rồi những tháng sau, một số nữ tu Mến Thánh Giá ưu tú khác từ các Phước Viện Di Loan, Cổ Vưu đáp lại lời mời gọi của Đức Cha, đồng thời những thiếu nữ ngoài đời cũng lần lượt đến gia nhập Dòng mới.

 Mục đích Hội Dòng mới

    Trong tờ trình lên Đức Thánh Cha xin châu phê việc thành lập Dòng, Đức Cha Allys viết: “Trong tháng 9 năm 1920 con đã tách 6 trinh nữ bản xứ khỏi Hội Dòng các phụ nữ có đời sống chung, thuộc quyền giáo phận và không có lời khấn, quen gọi là các chị em ‘Mến Thánh Giá’ hay ‘Con cái Đức Mẹ Maria’ và nhập lại với nhau thành một nhóm với mục đích cùng các thiếu nữ khác dần dần từ ngoài thế gian được nhập vào, họ sẽ sống đời tu cách nhiệm nhặt hơn, rồi sau thời gian tương xứng học hỏi giáo lý, văn hoá và các khoa đời, họ có thể mở trường học trong giáo phận Huế”.

    Lúc bấy giờ, giáo phận Huế chưa có Dòng nữ bản xứ nào khác chuyên dạy thiếu nữ. Vì chị em Mến Thánh Giá hay Con cái Đức Mẹ Maria như nói ở trên không phải là nữ tu đích thực, các chị ở chung, không có lời khấn, chỉ đọc kinh và làm việc tại nhà, và vì học lực còn kém nên không có khả năng dạy học. Các chị em hội dòng mới này thuộc quyền giáo phận, có lời khấn đơn vĩnh viễn sẽ mang tên là ‘Con Cái Đức Maria Vô Nhiễm’. Mục đích thứ nhất chính là dạy thiếu nữ trong các trường, mục đích thứ hai là lo cô nhi viện, các sở nữ công và chuẩn y viện (bệnh xá).

 Sự nghiệp chung

    Hoài bão của Đức Cha Allys được thực hiện dần dần nhờ sự cộng tác đắc lực của cha Chính Giáo là Đấng Đồng Sáng Lập Dòng với ngài.

    Thật vậy, ngài giao cho cha Chabanon trực tiếp giáo dục, hướng dẫn, về phương diện tổ chức cũng như phương diện tinh thần, cho nhóm chị em đầu tiên của Dòng. Chị em được hưởng gia sản tinh thần của cả hai vị Sáng Lập Dòng. Đức Cha Allys cũng mời các nữ tu Dòng Thánh Phaolô đến dạy văn hoá cho chị em. Ngày 24.8.1924, ngài cho phép 11 chị tiên khởi tuyên khấn lần đầu theo giáo luật. Và sau đó sai đi dạy học, làm việc trong các cô nhi viện...

    Trước sự phát triển đẹp đẽ của Hội Dòng, trong một đường lối tu trì điều hoà và vững mạnh, Đức Cha Allys lòng tràn đầy hy vọng và sung sướng viết về Paris: “Ngoài các buổi học, giải trí và các giờ đạo đức thiêng liêng, mỗi ngày các học viên cũng dành thời giờ để người thì thêu thùa, người thì làm len hay dệt lụa, thầy trò yêu mến nhau tận tình, đến nỗi niềm vui, sự hoà thuận và hoạt động lan khắp tu hội, làm cho tương lai xem ra có phần chắc chắn, miễn là Chúa quan phòng khấng che chở họ” (Achives de MEP Lettre du 8 Aout 1923, trang 3).



10. Đức Cha Allys sáng lập Dòng Sư Huynh Giáo giảng viên Thánh Tâm Chúa Giêsu

 Quan tâm đến việc lập dòng tu địa phương để lo Giáo-Giảng

      Ngoài việc lo đón tiếp, nâng đỡ các Dòng tu từ nước ngoàii đến thành lập trong Giáo phận Huế, việc lập Dòng tu cho người dân ở địa phương để chuyên lo về giáo dục thanh thiếu niên, cũng được Đức Cha Allys hết sức quan tâm; điều này được chính Đức Cha Hồ Ngọc Cẩn ghi lại như sau:

    "Đức Cha Allys thấy đời văn minh tiến bộ, thiên hạ đang xu hướng về đàng khoa học, nọ là nam nhi thiếu nữ, nọ là thành thị thôn quê, thảy đều đua nhau đi học cho đặng thi bơi với đời. Nhưng hiểm thay, trường tổng trường làng thì có mà trường đạo thì chỉ có một trường Dòng (Pellerin) tại Huế, con nhà có đạo không mấy người nhờ được trường ấy, hoặc bởi xa xuôi, hoặc vì ít bạc. Bởi đó, hoặc phải ở nhà chịu dốt, hoặc phải đi học chung ở trường không có đạo, ấy là một điều rất hiểm nguy. Vì vậy Đức Cha mới đặt trí đến việc lập dòng nữ, dòng nam để xuất thân lập trường dạy dỗ, cũng như đã có dòng nam dòng nữ ẩn tu nơi tịch mạc để giúp lời khấn vái nguyện cầu. Hai đều cần thiết cả hai, đã lo cho có dòng đọc kinh cầu  nguyện, thì còn phải lo cho có dòng giáo hóa trẻ con” (Trích Nhật ký I/TT/HNC).

    Quyết định thành lập Dòng Sư Huynh Giáo giảng viên Thánh Tâm

    “Đến năm 1923, Đức Cha khỉ công lập dòng nam theo khuôn mẫu của Dòng "Tu sĩ giáo dục Công giáo Ploermel", do Vị Đáng kính De Lamennais xứ Bretagne, miền Tây-Bắc nước Pháp, nơi ngài đã được thụ giáo trước khi trở thành chủng sinh.

    Công việc tiến hành như sau: Trước hết, Đức Cha gửi thư cho Đức hồng y Van Rossum Thứ trưởng Tòa áp việc truyền giáo - ĐHY ban khen và cầu chúc thành công. Đức Cha cũng đã gửi thư cho Cố Lựu (Léculier) là cha phó của ngài hồi còn ở Phủ Cam, đang ở Paris. Cố Léculier đã quyên gửi về cho Đức Cha 10.000 phật lăng và hứa sẽ gửi tiếp, nhưng Cố Léculier đã qua đời mấy tháng sau đó". Một số ân nhân đã giúp Đức Cha tiền bạc, đất vườn, và công sức...

    "Đến tháng Giêng năm 1924, lúc các Cố tề tựu về tĩnh tâm tại Đại chủng viện Kim Long, Đức Cha cho các Cố biết ý định lập dòng nam tại Trường An của ngài. Mặc cho tiếng bàn ra tán vào, Đức Cha vẫn cương quyết thực hiện ý định của ngài, ngài không xin một đồng nào của Nhà Chung giáo phận.

    Tháng 7 năm ấy (1924) Đức Cha chính thức chọn cha Hồ Ngọc Cẩn làm Bề trên tiên khởi, đảm trách xây dựng và cai quản Dòng mới mang danh hiệu là "Institut des Petits Frères du Sacré- Coeur".

    Đúng 8 giờ sáng ngày 9-10-1925 Đức Cha lên làm lễ khánh thành và khai sinh Dòng". Từ đó, hằng tuần Ngài lên thăm viếng con cái Thánh Tâm của Ngài. (Trích Nhật ký I/TT/HNC).

MỤC ĐÍCH - CHÂM NGƠN - TINH THẦN

MỤC ĐÍCH :
                     Giáo Dục:  Mở trường dạy học các cấp phổ thông; 

                                        Đào tạo Giáo Lý Viên dạy các cấp Giáo Lý theo nhu cầu của các Giáo Xứ và Giáo Phận.
                     Truyền Giáo:  Nhận cai quản giáo xứ do Giáo Quyền uỷ thác.
                        
CHÂM NGÔN:  “Ra đi rao giảng Tin Mừng” (x. Mc 16,15).

TINH THẦN:   “Hiền Lành và Khiêm Nhường”.
Đã chọn Thánh Tâm Chúa Giêsu làm Quan Thầy tối cao, đương nhiên là phải học theo trường lớp của Chúa Giêsu: “Anh em hãy học với Thầy, vì Thầy có lòng hiền lành và khiêm nhường” (Mt 11,29).


11. Toà Khâm sứ Toà thánh thiết lập tại Huế (1925)

    Một sự kiện lịch sử quan trọng đối với Giáo Hội Công Giáo Việt Nam xảy ra ngày 20.5.1925, thời Đức Cha Allys, giáo phận Huế được hai vinh dự:

- Một là Cụ Quận Công Nguyễn Hữu Bài, một đại thần của triều đình Việt Nam, là tín hữu công giáo đạo đức và hào hiệp có nhiều hoạt động lớn lao phục vụ Giáo Hội ; 
- Hai là do thỉnh nguyện của Quận Công, Toà thánh quyết định thiết lập toà Khâm Sứ Toà Thánh tại Đông Dương đặt trụ sở ở Phủ Cam [Xem bài “Phước Môn Quận Công Nguyễn Hữu Bài”, trong “Nhân vật giáo phận Huế”, Tập 1, Lê Ngọc Bích biên soạn, trang 110-13].

    ĐGM. Constantino AYUTI (1876-1928) được bổ nhiệm làm Khâm Sứ Toà Thánh đầu tiên, từ năm 1925-1928.


12. Nguyệt san “Sacerdos Indosinensis”

    Đức Cha Allys phối hợp và lãnh ý Đức Khâm Sứ Toà Thánh Ayuti cho xuất bản Nguyệt San “Sacerdos Indosinensis”. Đây là tờ báo có tôn chỉ mục đích trao đổi, liên lạc và phổ biến các tài liệu tôn giáo, là cơ quan ngôn luận của hàng giáo sĩ Việt Nam. Tờ báo được giao cho linh mục Cadière thực hiện và làm chủ nhiệm. Số đầu tiên phát hành ngày 19.3.1927.

13. Vị Giám mục đầu tiên gửi sinh viên du học Roma

    Năm 1922, tháp tùng vua Khải Định sang Pháp, Cụ Nguyễn Hữu Bài đến La Mã, được ĐGH Piô XI tiếp kiến. Cụ dâng lên ĐGH thỉnh nguyện gồm 4 nội dung chủ yếu, trong đó có hai nội dung:

    - Xin cải tổ công việc huấn luyện trong các chủng viện.
    - Xin lập hàng giáo phẩm và cho hai người Việt Nam được học ở trường Truyền giáo Roma.

    Kết quả là ngày 30.6.1924 bộ Truyền Giáo Toà Thánh có 2 quyết định quan trọng:
    - Thiết lập Toà Khâm Sứ Toà Thánh.
    - Ban huấn thị yêu cầu các thừa sai phải nỗ lực thăng tiến các linh mục bản xứ,...

    Hưởng ứng huấn thị, Đức Cha Allys gởi hai sinh viên Đại Chủng Viện Phú Xuân qua Roma du học. Hai sinh viên đó là thầy Phêrô Ngô Đình Thục và thầy Phêrô Nguyễn Văn Lành. Đây là lần đầu tiên các sinh viên Đại Chủng Viện Huế chính thức được nhận vào Đại Học Đường “Truyền Giáo”, một đại học lớn của Roma [Thành lập năm 1627, do ĐGH Urbano VIII, với 2 ban Thần học và Triết học. Năm 1933 lập thêm Truyền giáo học viện (VNCG Niêm giám 1964, trang 55).].


14. Người của mọi người

    Đức Cha sống rất đơn giản, tiếp xúc dễ dàng với mọi hạng người, người Việt Nam cũng như người đồng hương của ngài. Ngài ôn tồn đối với các chính quyền Pháp –Việt, sẵn sàng giúp đỡ khi cần thiết.

    Đức Cha Allys được thưởng huy chương "Chevalier de la Légion d’honneur" (tạm dịch ‘Bắc Đẩu Bội Tinh’), bằng sắc lệnh của quan Toàn Quyền Đông Dương Albert Sarraut ngày 05.02.1921. Ngày 14.7.1921 quan Toàn Quyền Pháp tại Việt Nam, ông Pierre Pasquier đã long trọng trao huy chương này trước sự hiện diện của quân đội Hoàng Đế Khải Định và Triều Đình, ngay trước ngọ môn của cung điện Nhà Vua.

    Ngày 14.4.1921 Vua Khải Định tưởng thưởng Đức Cha Allys "Bội Tinh Kim Khánh" ngoại hạng đặc biệt của Triều Đình dành cho những nhân vật cao cấp.

    Năm 1925, vào dịp Kim Khánh Linh mục của Đức Cha, ngài được phong "Đại Quan" của Triều Đình Việt Nam và nhận từ Toà Thánh tước vị "Phụ Tá Ngai Tòa Thánh" (Assistant au Trône).


15. Xây dựng Tòa Giám Mục và Nhà Chung

    Sau khi quyết định chọn nhà thờ Phủ Cam làm nhà thờ Chính Toà, Đức Cha Allys cho di chuyển Toà Giám Mục và nhà Quản Lý từ Kim long về Phủ Cam, gần nhà thờ Chính Tòa. Đức Cha giao trọng trách này cho thừa sai Léculier Lựu.

    Nhờ sự giúp đỡ của cụ Nguyễn Hữu Bài, địa phận mua được một lô đất tư bên bờ tả ngạn sông Phủ Cam, đối diện phía hữu ngạn là nhà thờ Phủ Cam. Tuy nhiên, do phải đầu tư một lúc vào nhiều công trình mà khả năng tài chánh của Địa phận Huế có hạn nên trụ sở Tòa Giám Mục và nhà Quản Lý địa phận chỉ là những căn nhà mái ngói bình thường. Mãi đến năm 1931 Đức Cha kế vị Chabanon Giáo mới tiếp tục xây dựng Tòa Giám Mục Huế lớn lao hơn. Địa điểm này tồn tại cho đến ngày nay là TÒA TỔNG GIÁM MỤC HUẾ, số 6 Nguyễn Trường Tộ-Huế.

    Qua tháng 7 năm 1909 Đức Cha Allys dạy thừa sai Léculier xây dựng thêm Nhà Chung, cũng trong khuôn viên Toà Giám Mục.


16. Đức Mẹ Lavang trong thời giám mục của Đức Cha Allys (trích tài liệu Hành Hương Giáo Phận, tập II)

    Năm 1923 Đức Cha Allys đã có đề án xây cất một đền thờ Đức Mẹ La Vang nguy nga và rộng lớn. Công trình kiến thiết đó được giao cho thừa sai Morineau Trung, cha sở Cổ Vưu kiêm La Vang.

    Đức Cha tha thiết kêu gọi tấm lòng con cái trong ngoài giáo phận Huế, nhanh chóng đóng góp công của xây dựng ngôi đền thờ Đức Mẹ La Vang. Đáp lại lời kêu gọi ấy giáo dân khắp 3 miền hưởng ứng nhiệt liệt.

    "Sau gần 4 năm (1924-1928) xây cất, ngôi thánh đường mới với hai tầng mái và hai cánh thánh giá cổ điển cùng với cây tháp vuông hai tầng cao ngất, nổi bật lên giữa cảnh đồi cát chung quanh và núi rừng xa xa. Đây là ngôi nhà thờ ngói thứ hai minh chứng lòng thành kính Đức Mẹ La Vang của giáo dân toàn quốc.

    Qua ngày 20,21 và 22.8.1928 lễ Tam Nhật Đại Hội (lần 9)  cũng là lễ khánh thành đền thờ mới.

    Mặc dù lễ khánh thành nhà thờ đã được tổ chức nhưng lúc bấy giờ cái tháp chuông chưa xong. Đến ngày 30.9.1928 là ngày Chúa Nhật, Đức Cha Allys đã cử hành tại đền thờ mới lễ làm phép 3 quả chuông La Vang một cách long trọng với sự tham dự của cụ thủ tướng Nguyễn Hữu Bài, cùng với các linh mục và một số đông quan khách Việt Pháp ở Huế và ở Quảng Trị vào".

    Các kỳ Đại Hội Đức Mẹ La Vang

    Do ý thức trách nhiệm nặng nề và những đóng góp lớn lao cho nhà Mẹ, có thể nói Đức Cha Allys là người con cả của Đức Mẹ La Vang. Tất cả những gì tốt nhất, có được ngài đều dành cho Mẹ. Nếu không xuất phát từ tấm lòng thảo kính, niềm tin yêu vô hạn Đức Mẹ La Vang thì Đức Cha đã không xây dựng một đền thánh nguy nga nơi hoang địa, một nơi chỉ có số tín hữu thưa thớt, chưa bao giờ được xem là một giáo xứ, chưa hề có linh mục quản xứ.

    Hơn thế nữa, Đức Cha hết sức quan tâm các cuộc hành hương viếng Mẹ: Những cuộc kiệu Minh Niên, những ngày lễ Đức Mẹ quanh năm, những nhóm, đoàn hành hương riêng lẻ. Đặc biệt là những kỳ Đại Hội theo định lệ 3 năm 1 lần (có từ thời Đức Cha Caspar), Đức Cha tổ chức thật chu đáo và chính ngài đã nâng tầm các cuộc Hành Hương Đại Hội Đức Mẹ La Vang từ cấp địa phận lên cấp quốc gia (toàn quốc).

    Trong 23 năm cai quản Giáo Phận Huế, Đức Cha Allys đã tổ chức tất cả 6 kỳ Đại Hội La Vang: từ Đại Hội 4 (1910) đến Đại Hội 9 (1928), mỗi kỳ đều có nét độc đáo riêng. Đại Hội La Vang lần 6 (1917), Đức Cha Allys nhận thấy thời gian 1 ngày cho mỗi kỳ đại hội 3 năm một lần là quá ngắn, không thể thoả mãn tâm nguyện khách thập phương khi hành hương viếng Mẹ. Vì vậy từ Đại Hội 6, Đức Cha sửa đổi thời gian thành 3 ngày, gọi là TAM NHẬT:

- Ngày thứ nhất tại La Vang có các cha ngồi toà, có lễ hát trọng thể, giảng và chầu Mình Thánh Chúa.
- Ngày thứ hai có rước kiệu Thánh Thể do Đức Cha Allys chủ lễ.
- Ngày thứ ba bắt đầu cuộc rước kiệu Đức Mẹ từ Cổ Vưu vào La Vang như định lệ.

Từ đó, các cuộc hành hương La Vang có truyền thống 3 năm một lần. Đại Hội La Vang lần 9 (1928) là đại hội đầu tiên có tính toàn quốc, đồng thời có sự hiệp thông của ba nước Đông Dương, và là đại hội sau cùng thời Đức Cha Allys. Năm sau, Đức Cha Allys già yếu xin Toà Thánh nghỉ hưu.

 

17. Những năm tháng cuối đời

Sức khỏe Đức Cha càng ngày càng yếu, thân hình mảnh khảnh, nhưng nụ cười luôn nở trên môi. Con mắt ngài mờ đi rồi mù hẳn. Đây là một thử thách lớn đối với ngài. Nhưng ngài chấp nhận cách dũng cảm, vui tươi nhẹ nhàng.
 
Năm 1930, Toà Thánh ban phép cho ngài chọn một Giám Mục Phó là Đức Cha Chabanon. Năm 1931, ngài từ nhiệm vì mắt đã mù hoàn toàn.

Trong 5 năm hưu trí, ngài tận tình nâng đỡ các linh mục. Cũng như trong quá khứ, cửa nhà ngài luôn rộng mở đón tiếp mọi người. Hằng ngày có nhiều người đến thăm, từ quan lại đại thần Việt-Pháp cho tới những người thường dân, giáo hữu và lương dân, Đức Cha đều đón tiếp niềm nở. Các chủng sinh, tu sĩ cũng năng đến thăm ngài và nhận lời bảo ban trong tình cha con. Ngài thường kể lại những biến động chính trị, tôn giáo trong nước từ năm 1885 như là một nhân chứng còn sống sót.

Những năm vì bệânh, ít hoạt động, ngoài thì giờ tiếp khách, ngài thích ở nhà nguyện, chầu Thánh Thể, lần hạt cầu nguyện cho các nhu cầu của Giáo phận.

   
18. Cái chết lành thánh

Đầu tháng 4.1936 một cơn mệt khác thường xảy đến, báo trước cuộc hành trình của ngài trên  trần thế sắp chấm dứt. Ngày 09.4.1936 thứ 5 Tuần Thánh, Đức Cha Chabanon chủ toạ Thánh Lễ làm Phép Dầu, có chừng 30 linh mục tham dự, và sau đó ban Bí tích Xức Dầu bệnh nhân cho Đức Cha Allys. Vừa dứt lời nguyện Đức Cha già đưa mắt nhìn các linh mục đang đứng xung quanh giường ngài, ngài xin lỗi các linh mục có mặt cũng như vắng mặt, miệng ngài thì thào câu : “Combien Je Vous aime tous” (Cha thương mến chúng con tất cả) [ “Lịch sử giáo phận Huế”, tlđd, trang 121.].

Đó là lời cuối cùng của vị mục tử nói với đoàn chiên và cũng là câu châm ngôn Giám Mục của Ngài: “Diligo omnes” (tôi thương mến mọi người), mà ngài đã thực hiện bằng cuộc sống xả thân của ngài.

Sáng ngày 23.4.1936, Đức Cha được an ủi gặp lại người bạn cũ là Đức Cha Marcou, Giám Mục giáo phận Phát Diệm, và trưa hôm đó lúc 11giờ ngài nhẹ nhàng trút hơi thở cuối cùng trong tay Chúa và Mẹ Maria Vô Nhiễm.

Đám tang diễn ra ngày 27.4, có 5 vị Giám Mục là các Đức Cha: Marcou, Gouin, Tardieu, Jannin và Đức Cha Cẩn cùng nhiều linh mục tu sĩ từ những giáo phận khác đến tham dự. Đại diện chính quyền Việt Nam là cụ Thái Văn Toản và chính quyền Pháp là ông Grafffeuil cùng nhiều viên chức khác. Khi còn sống ngài đã xin tổ chức đám tang thật đơn sơ, không vòng hoa, không điếu văn, không dàn chào. Đức Cha Marcou cử hành Thánh Lễ Đại Triều và tiễn đưa người bạn Giám Mục của mình đến nơi an nghỉ cuối cùng tại nghĩa địa các linh mục ở Phủ Cam. Đức Cha Allys hưởng thọ 84 tuổi với 61 năm linh mục trong đó có 28 năm là Giám Mục. Đời ngài, giáo phận Huế được thịnh vượng, bình an nhất. Giáo dân thường gọi ngài là Đức Cha Già. Tên việt ngài là Đức Cha Lý. Người lương gọi ngài là “Ông Tiên bên đạo”, vì gương mặt ngài hiền từ, dễ thương, lại có bộ râu trắng dài, giống ông tiên trong các hình vẽ.

Nghe tin Đức Cha Allys qua đời, chí sĩ Phan Bội Châu bấy giờ bị giam lỏng ở Bến Ngự (Huế), là bạn của Đức Cha, có bài văn tế khóc Đức Cha, đăng trong báo Tiếng Dân ngày 25.5.1936 với những lời bi thiết như sau:


    Gương đạo nghĩa vẫn soi lòng bác ái,
    Múi tinh thần càng nhớ bậc tiên tri.
    Thống duy ! Đức Cha Lý xưa !
    Sao chói trường canh
    Đèn khêu thượng trí.
    .................................
    Lòng yêu người nào kể trắng hay vàng, xem họ Pháp Lan Tây chung cùng dòng Việt.
Nửa thế kỷ choảng vang chuông đạo Chúa, mở miệng người câm,
    Xoi tai người điếc, những ước ao beo cọp hoá tường lân.
    .................................
Ư ngày nay nhắc tới ngày xưa, tiếng ngọc vài lời, mùi thân ái còn say tới não.
    Ai ngờ gần mới,
    Bỗng chốc được tin :
    Trên thiên đàng vội rước Ngài lên.
    Giữa trần thế ai là Cha nữa?
    .................................
Nỗi cảm tình riêng cũng khóc thương thầm, tưởng câu “thất nhĩ nhân hà”, nợ thay bạn xin chung lời điếu
    “Thốn tâm, thiên cổ” gọi rằng “tri tử giả ái”
    “Tứ hải nhất giai”, dám chắc “hữu cầu tắc ứng”.

(Trích trong “Phan Bội Châu toàn tập”, NXB Thuận Hoá, Huế, 1990, tập VI, trang 341-342)

Ngày 06.8.1986, mộ Đức Cha Allys được cải táng về nghĩa trang Thiên Thai Huế.

19- Những thành quả.

    Đức Cha kể ra những thành quả chung chung thu lượm được trong kỳ hoạt động mới rồi: 1227 người lớn được rửa tội, 2641 trẻ em bên lương được chịu Phép Thanh Tẩy, 237.373 người đi xưng tội và rước lễ được 428.763 người. Sau đó đức cha còn nói về tình hình 5 hạt lớn trong giáo phận:

     1 – Hạt Quảng Bình, cha Darbon đứng đầu gồm 11 giáo xứ. Mỗi xứ có một vị thừa sai hay 1 cha Việt Nam. Tất cả có 5 vị thừa sai và 6 cha Việt Nam . Hạt này rửa tội vừa rồi được 314 người lớn. Riêng một mình cha Phaolô Trương Văn Vân, cha sở Mỹ Hương đã rửa tội được 147 tân tòng[ Chúng tôi ghi thêm chi tiết mà tác giả không có, ví dụ tác giả ghi cha Vân , chúng tôi lại ghi cha Phaolô Trương Văn Vân cho rõ thêm…]. Ngài còn chuẩn bị rửa tội một số người nữa. Cha Vân đã lâm bệnh, buộc lòng ngài phải vào Huế chữa bệnh nhờ các bác sĩ chăm sóc. Cũng may nhờ ơn Chúa thương, ngài hồi phục được sức khoẻ, mặc dầu đã 67 tuổi. Cha Vân còn đủ sức để đảm đang giáo xứ một vài năm nữa.

    2 – Hạt Đất Đỏ do cha Chabanon điều khiển. Ngài cũng là cha Chính Giáo Phận. Hiện tại ngài đang ở Di Loan , một họ đạo gần Tiểu chủng viện An Ninh. Trong hạt ngài có 14 giáo xứ, trong đó có 4 do các cha thừa sai điều khiển và 10 giáo xứ khác do các cha Việt Nam. Về phương diện giữ đạo, hạt Đất Đỏ là một trong những hạt đạo đức nhất ở Giáo Phận Đàng Trong. Trung bình lần xưng tội, rước lễ hằng năm trong mùa Phục Sinh của giáo hữu là 7.

    3 – Hạt Dinh Cát, cha Lemasle làm bề trên quản hạt. Hạt này rất giống hạt Đất Đỏ: trung bình lãnh các Bí tích thường xuyên giữa 2 hạt gần gần giống nhau . Cũng vậy về phương diện hành chánh đời, hai hạt thuộc một công sứ Pháp, một tỉnh trưởng Việt Nam. Các cha thừa sai trong hạt này cũng gặp nhiều khó khăn tương tự giống nhau cả 4 - 5 vị thừa sai và 6 linh mục Việt Nam chia nhau làm mục vụ cho 11 giáo xứ trong hạt gọi là Bên Bộ. Thành quả chung của các ngài là 290 người lớn được rửa tội, trong đó có 115 người do cha Gioankim Nguyễn Văn Dụ, chừng 50 người do cha Chapuis, mặc dù vị nầy sức khoẻ không được khả quan lắm và sau cùng 86 người do cha Giuse Trần Văn Trang.

    5 – Bên Thuỷ thì quan trọng hơn so với các hạt khác trong Giáo Phận: 8 cha thừa sai và 12 cha bổn quốc, làm việc dưới quyền điều khiển cha hạt trưởng Stoeffler. Hơn ¾ giáo hữu hạt nầy là tân tòng. Từ một năm nay đã tăng từ con số đơn vị là 418. Các cha thừa sai, các linh mục Việt Nam phải hy sinh vất vã nhiều mới thu lượm được thứ mùa màng tốt đẹp đó. Cha An Phong Trần Bá Lữ từ nhiều năm nay đã làm việc không ngừng, ngài lo cho người lương trở lại đạo Công giáo. Ngài vừa kiệt sức đang lúc thăm viếng một họ đạo mới. Tuy nhiên cũng may có kỳ phong chức tháng 12, nhờ vậy lấp được chỗ trống do cái chết bất ngờ của cha vừa rồi. Lại có thêm 2 cha Việt Nam khác tới giúp ngài. Các cha này quá bận rộn công việc. Các trường sư huynh ở trong tình trạng tốt đẹp cả. Phải dám nói rồi đây số học sinh càng ngày càng lên, nếu chúng ta được sống hoà bình và tự do như vậy mãi mãi, ít ra tạm mức độ nào đó cũng thu lượm được nhiều thành quả tốt, đáng khích lệ.”


 
CHƯƠNG II

CHÂN DUNG TINH THẦN CỦA ĐỨC CHA ALLYS

    BÌNH DIỆN NHÂN BẢN

    20. Vui vẻ lạc quan

    Khi Đức Cha Allys còn là linh mục trẻ tuổi mới đến Việt Nam, Đức Cha Sohier đã nhận thấy nhiều đức tính cao đẹp nơi ngài. Đức Cha Sohier nói : “Người bạn mới này sẽ là Bề Trên giáo phận”. Ngài thông minh bén nhạy, mặc dù không phải là nhà thông thái, ngài có một con tim tế nhị, biết rung cảm với người khác, vì thế ngài giao thiệp tiếp xúc dễ dàng với mọi hạng người. Người ta nói : “Ngài là vị Giám Mục mỉm cười”. Ngài không để cho mình bị đè nặng bởi âu lo thái quá. Đức Cha Chabanon cộng tác viên và là Giám Mục phụ tá ngài nói : “Khi Đức Cha Lý có điều gì ưu tư nặng lòng thì ngài hát lên”.

    Trong ngày Quốc Khánh 14.7.1921, nhân dịp trao tặng huy chương cho ngài, Toàn Quyền Pasquier đã phác họa bức chân dung của vị Giám Mục trong một bài diễn văn như sau : “Khi chính quyền gắn huy chương đỏ trên áo tím Giám Mục của ngài là có ý biểu dương những đức tính hùng dũng và chắc chắn nơi ngài. Ngài mang những đức tính ấy với một lòng quả cảm không bao giờ tắt nụ cười trên môi với lòng nhiệt thành đến độ hăng say, với một sự lạc quan thổi vào những ngọn lửa đang chập chờn”.

   
21. Đơn sơ giản dị

    Nhà ở cũng như cách ăn uống, cách tiếp xúc của ngài đều rất đơn giản. Ngài yêu cầu tổ chức đám tang cho ngài đơn sơ, không vòng hoa, không điếu văn, không dàn chào. Trong lá thư của Cố Thuận (Denis) viết về cho mẹ ngài năm 1913, ngài kể như sau : "Tuần này Đức Cha đến thăm chủng viện, ngài là một đấng rất thánh. Đau đớn cả đời mà hằng làm việc luôn. Thế mà lại không khó nuôi gì cả, chỉ một chén cơm với một miếng cá luộc là xong bữa. Mỗi ngày con chỉ tốn cho ngài 5 xu, mà con lại lợi nhiều…" [Hạnh tích cha Benoit R.P. Henri Denis Cố Thuận, Tổ phụ Dòng Xitô, Thánh gia Việt Nam, trang 88. ]

    Ngày 15.1.1922, Cố Thuận lại viết tiếp : "Hôm qua Đức Cha Lý đến thăm Dòng Phước Sơn. Thật là một ngày đại lễ cho chúng con. Ngài tỏ bộ vui vẻ lắm… Ngài đã chịu và đang chịu nhiều gian nan vì con chiên. Ngài không ăn chi hết mà sống ! Không bánh, không cơm, không rượu, không thịt, không chi hết, hầu như ngài chỉ ăn cái không không ! thật lạ ! Mỗi bữa thì dùng ít cá luộc và vài củ khoai cũng luộc thôi ! Dầu có đón rước ngài, thật dễ, không cần ai cầm áo đuôi vì ngài không có, không xe hơi, không tài xế, không đầy tớ, đầu bếp cũng không. Bất kỳ ai làm bếp cho ngài cũng được, chỉ lấy khúc cá và củ khoai bỏ vào nấu nước sôi lên, thế là xong bữa tiệc của ngài rồi! Ăn uống như vậy, đau khổ như kia mà diện mạo vẫn tươi như hoa nở. Ai có việc chạy đến với ngài thì ngài hết sức lo lắng như không có việc chi khác. Ngài sẵn sàng giúp đỡ mọi người, dầu việc xem ra quá sức. Ngài sang Việt Nam năm 1875 mà chưa về Tây lần nào. Nguyện xin Chúa cho ngài trường thọ lâu năm nữa"[ Hạnh tích cha Benoit R.P. Henri Denis Cố Thuận, Tổ phụ Dòng Xitô, Thánh gia Việt Nam, trang 172-173.]

  
  22. Thích đối thoại, ôn hoà với mọi người

    Trái tim ngài ôm ấp mọi người, không trừ một ai, trong bữa ăn không ai mà không được ngài lưu tâm hỏi han như câu châm ngôn Giám Mục của ngài : “TÔI YÊU MẾN MỌI NGƯỜI”. Ngài tận tụy giúp đỡ những người công giáo cũng như người lương dân, nên ngài được huy chương của Giáo Hội cũng như của hai chính quyền Việt-Pháp.

    23. Can đảm, kiên quyết

    Khi cha Allys là cha xứ Dương Sơn năm 1883, Đức Cha Caspar biết được tin Văn Thân sẽ giết hại người công giáo trong giáo phận, liền báo tin cho cha Allys bảo ngài vào Kim Long để được an toàn hơn, nhưng ngài tự nguyện ở lại với đoàn chiên của mình.


BÌNH DIỆN TU ĐỨC
 

    24. Khiêm tốn và bác ái

    Lúc lãnh bí tích cuối cùng, ngài đã xin lỗi các linh mục có mặt cũng như vắng mặt. Ngài thì thào câu : “Cha mến thương tất cả chúng con biết bao !” Đó là tất cả tấm lòng của ngài, tấm lòng của một mục tử chỉ biết sống cho đoàn chiên. Ngài lưu tâm đến nhu cầu tinh thần và vật chất của Dân Chúa, đặc biệt là các linh mục, những người cộng tác chăn dắt đoàn chiên và truyền giáo cho lương dân.

   
25. Lòng yêu Bí tích Thánh Thể và các linh hồn

    Trong thời gian làm cha xứ, sau giờ đọc kinh chung với giáo dân ban tối, ngài thường ở lại chầu Thánh Thể rất lâu. Lúc bị mù loà hưu trí, ngài thường ở trong nhà thờ suốt buổi chiều để cầu nguyện và chầu Thánh Thể. Tuy vậy trước khi qua đời, ngài nói : “Ngày nào ra trước toà phán xét, tôi chỉ sợ hai điều : một là khi còn sống đã không yêu phép Thánh Thể cho đủ, hai là không hết tình cứu giúp các linh hồn nơi luyện ngục”.

   
26. Tin tưởng vào hoạt động của Chúa Thánh Linh

    Các chủng sinh thỉnh thoảng đến thăm ngài, ngài thường nhắc nhủ : “Khi chúng con làm linh mục, chúng con phải làm cho bổn đạo biết và yêu mến Chúa Thánh Thần, vì phải có ơn Chúa Thánh Thần mới giữ đạo được”.

   
27. Lòng yêu mến Đức Mẹ

    Từ hồi niên thiếu, Đức Cha đã tỏ lòng yêu mến Đức Mẹ cách đặc biệt, ngài năng đến cầu nguyện với Đức Mẹ tại nhà thờ xứ và hang đá Đức Mẹï, ngài rất siêng năng lần hạt nhất là lúc về già, những khi rảnh rỗi, tay ngài luôn cầm tràng hạt. Do lòng kính mến ấy đối với Đức Trinh Nữ Maria Vô Nhiễm, Đức Cha đã chọn ngày lễ Sinh Nhật Đức Mẹ để khai sinh Hội Dòng mới và đặt tên là Dòng Con Đức Mẹ Vô Nhiễm.

    Khi nhận được 2 huy chương do hai nước Pháp và Việt Nam trao tặng để ân thưởng ngài, ngài đã có ý tưởng rất đẹp, vừa ngộ nghĩnh vừa biểu lộ tình yêu của ngài đối với Đức Mẹ ở Paimpont, giáo xứ thân yêu của ngài. Đức Cha đã gửi 2 huy chương về Paimpont nhờ cháu xin cha xứ đeo vào cổ tượng Đức Mẹ và tượng Chúa Giêsu đặt trong nhà thờ xứ. [ cf Lettre à Marie la nièce de Mgr. 9 Aỏt 1934]

    Với tư cách vị chủ chăn của giáo phận, ngài sốt sắng tổ chức Đại Hội Lavang và cho xây cất lại ngôi thánh đường Lavang rộng lớn hơn.

   
28. Can đảm chấp nhận Thánh giá

    Sự nghiệp thừa sai của ngài nói lên lòng can đảm chấp nhận mọi thánh giá, thử thách của người tông đồ. Nụ cười trên môi chứng minh lòng phó thác giữa mọi gian truân thử thách khó khăn, vì ý thức rằng hạt lúa mì phải thối đi để sinh bông hạt, và không tình yêu nào lớn lao hơn tình yêu của người liều mạng sống vì kẻ mình yêu.

    Thánh giá cuối đời của ngài là mù hai mắt. Đối với ngài, một con người hăng say hoạt động thì đó là một thử thách lớn. Ngài nói : “Chúa nhân lành không thể nào gởi cho tôi một thánh giá nào lớn hơn nữa, xét theo tính khí của tôi”. Ngài đã can đảm chấp nhận vui tươi, nhẹ nhàng trong suốt 6 năm. Ngài tận tụy trong nhiệm vụ đến tiêu hao sức lực thể xác, nhưng những ngày hưu trí vẫn là chuỗi ngày hy sinh cầu nguyện cho công cuộc truyền giáo của giáo phận. Ngài thường nói : “Điều quan trọng là cầu nguyện và chịu đau khổ”.


BÌNH DIỆN TÔNG ĐỒ 
 

    29. Ưu tiên cho tân tòng

    Đức Cha Lý quả là một vị tông đồ nhiệt thành. Ngài tận tụy suốt đời, từ khi là linh mục và trong suốt thời gian làm giám mục. Ngài luôn quan tâm đến việc làm cho người lương trở lại, tìm những trẻ em bị bỏ rơi, hoặc sắp chết để rửa tội. Ngài khuyến khích các linh mục đi đến với lương dân. Ngài cung cấp tiền bạc, phương tiện dồi dào cho việc giảng dạy tân tòng, dự tòng, thành lập các giáo xứ mới, xây cất các nhà nguyện và nhà thờ...

    Ngài không tiếc tiền bạc trong việc truyền giáo. Các linh mục chăm sóc tân tòng thường được ngài hỗ trợ nhiều về tài chính vì ngài biết họ phải chi phí nhiều.

  
  30. Tông đồ bằng tình yêu

    Tính tình vui vẻ cởi mở của ngài rất thích hợp cho việc truyền giáo. Ngài tiếp xúc với mọi hạng người một cách hồn nhiên và đầy lòng kính trọng yêu mến như câu châm ngôn của ngài : “CHA YÊU THƯƠNG MỌI NGƯỜI”. Tâm hồn mục tử của ngài được diễn tả trong huy hiệu Giám Mục bằng hình ảnh Chúa Chiên Lành dẫn dắt đoàn chiên. Ngài yêu mến và muốn cho mọi người được cứu rỗi, được nhận biết Chúa. Đó là động lực đức ái phát xuất từ Thiên Chúa. Ngọn lửa yêu mến Chúa đã nung đốt tâm hồn ngài, thúc đẩy ngài hành động, và dùng mọi phương tiện để rao giảng Tin Mừng. “Ngọn lửa nhiệt thành Nhà Chúa nung đốt tâm hồn tôi” (Tv 69, 10)

    Dù triều đình Việt Nam cấm cách bắt bớ, ngài vẫn tìm cơ hội truyền giáo cho các quan trong triều đình cũng tiếp tục chọn con đường theo Chúa.

   
31. Tông đồ bằng cầu nguyện, hy sinh

    Đức Cha tin tưởng vào sức mạnh của lời cầu nguyện và sự hy sinh trong công cuộc truyền giáo, thỉnh thoảng ngài kêu gọi các nữ tu ăn chay cầu nguyện đặc biệt để xin ơn trở lại cho người nọ người kia. Ngài còn bảo trợ việc thiết lập hai đan viện Carmel và Phước Sơn để làm hậu thuẫn cho công cuộc truyền giáo (xem số 9)

    Thời gian hưu trí của ngài cũng là những chuỗi ngày hy sinh cầu nguyện cho việc mở mang nước Chúa.

    Đức Cha đã để lại trong lòng mọi người hình ảnh một vị mục tử nhiệt thành, vui tươi, hăng say trong việc loan báo Tin mừng Tình yêu của Chúa Cứu Thế mà ngài đã hiến thân phụng sụ suốt đời như một tôi tớ trung thành.

 

Tác giả bài viết: Thánh Tâm & Vô Nhiễm

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết
Từ khóa: n/a
Comment addGửi bình luận của bạn
Mã chống spamThay mới

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn