Rss Feed

Trang nhất » Tin Tức » Lẽ sống - Cầu nguyện

Phân Định Thần Khí Theo Thánh Phao-lô

Thứ bảy - 18/01/2014 07:44
Khi tin vào Thiên Chúa Ba Ngôi, con người cũng theo gương Thiên Chúa Ba Ngôi mà yêu thương và hiệp nhất với Ba Ngôi Thiên Chúa, làm chứng để thế gian biết và cộng tác vào kế hoạch của Thiên Chúa là hiệp nhất mọi người và toàn thể vũ trụ vào Chúa Con (x. Rm 8,26).

PHÂN ĐỊNH THẦN KHÍ THEO THÁNH PHAO-LÔ

 
Dẫn nhập

Đời sống thiêng liêng của chúng ta luôn phải đối mặt với nhiều loại thần khí khác biệt nhau; giữa một bên là Thần Khí Thiên Chúa, Thần Khí của sự sống, của chân lý và của tình yêu; với một bên là thần khí thế tục, thần khí của sự dối trá, của bịp bợm, thần khí của ghen ghét hận thù, thần khí của sa đọa phóng túng và của sự chết chóc, v.v… chúng ta cần có một sự phân biệt đúng đắn và rõ ràng, cần một sự chọn lựa dứt khoát, ngay cả khi phải hy sinh từ bỏ những lợi ích, những vinh dự đời này, thậm chỉ cả đến mạng sống của chính mình nữa. Vì sự lựa chọn có tác dụng mang tính cách quyết định đến cuộc sống hạnh phúc và sự bất hạnh đời đời của con người
[1], vậy làm sao chúng có thể biết được đâu là những thần lành, đâu là những thần dữ? Đâu là những tiêu chuẩn để nhận biết một người hay cộng đoàn đang hoạt động theo sự hướng dẫn của Chúa Thánh Thần? Để trả lời cho vấn nạn trên, chúng ta cùng nhau tìm hiểu một số tiêu chuẩn phân định Thần Khí theo Thánh Phao-lô là: Thứ nhất, phân định Thần Khí nhờ lòng tin. Thứ hai, Đức mến là điểm mấu chốt cho sự phân định. Thứ ba, cộng đoàn thăng tiến nhờ sự hướng dẫn của Thần Khí.

I.      Phân định thần khí nhờ lòng tin[2]

Sự phân định thần khí trong đời sống thiêng liêng khởi đi từ chính nội dung Tin Mừng mà Thánh Phao-lô đã cảm nghiệm được: “Từ một ký ức về Một Đức Giê-su Ki-tô” Tử nạn và Phục sinh; đến việc con người được làm con Thiên Chúa nhờ Thần Khí, và cách xứng hợp để tôn thờ Thiên Chúa.

1.  Ký ức về một Đức Giê-su Ki-tô

Thánh Tông Đồ dân ngoại đã tìm cho mình con đường chân lý, mà trước biến cố "ngã ngựa” là một con đường lạc lối và mù tối. Nhưng sau biến cố "ngã ngựa" với kinh nghiệm gặp được Đức Giê-su Phục sinh, thánh nhân đã chỉ cho chúng ta con đường dẫn đến Thiên Chúa. Chính những cảm nghiệm trên của thánh nhân lại là điều giúp chúng ta phân định đời sống thiêng liêng của mình.

Trước khi bị thu phục bởi Đức Giê-su Phục sinh, Phao-lô nổi tiếng là người hung ác, bạo tàn. Đối với ông, Đức Giê-su và các môn đệ của Ngài ấy là những kẻ phá hoại đức tin của cha ông. Với lòng nhiệt thành, Phao-lô đã xin thượng tế thư giới thiệu đi bắt những người theo Đạo ở thành Đa-mát
[3].
Trên đường đi, bỗng một luồng sáng quật Saolô
[4] ngã ngựa[5]. Luồng ánh sáng bao phủ, gây kinh hoàng cho ông, ánh sáng làm cho đôi mắt ông bị mù. Saolô bị mù đôi mắt thân xác nhưng ông cặp mắt tâm linh[6] soi dẫn. Ông bị Đức Ki-tô thu phục từ đây. Cảm nghiệm của người nhận biết Thiên Chúa, được gặp chính Đấng là Tình Yêu, Thiên Chúa luôn đi bước trước, một kinh nghiệm mà chính Phao-lô đã cảm được; ngài đã chạm được Đức Giê-su Ki-tô Phục sinh, chính vì thế mà Phao-lô luôn nhắc đi nhắc lại biến cố này trong suốt cuộc đời[7]. Phao-lô đã nói lên kinh nghiệm gặp gỡ Đức Giê-su. Chính Người đã can thiệp làm đảo lộn dự tính của ngài. Hồi tưởng lại biến cố này trong đời, Phao-lô cho chúng ta thấy tình thương bao la của Thiên Chúa đối với ngài, không những chỉ nhắc lại kinh nghiệm thiêng liêng mà ngài còn khẳng định: "Sự sống hay sự chết...không có gì tách tôi ra khỏi lòng mến của Thiên Chúa, trong Đức Ki-tô”[8]. Hơn thế, Phalô còn dẫn chúng ta trở về khởi đầu của thời gian: “Trong Đức Ki-tô, Người đã chọn ta trước cả khi tạo thành vũ trụ, để trước thánh nhan Người, ta trở nên tinh tuyền thánh thiện, nhờ tình thương của Người”[9].

Cả đời Thánh Phao-lô đã sống ký ức về một Đức Giê-su Ki-tô Tử nạn và Phục sinh. Đức tin mà thánh nhân lãnh nhận, đã cảm nghiệm nay ngài cũng loan báo: "Chúng tôi rao giảng một Đức Ki-tô Chịu Đóng Đinh”
[10] và Đấng đã Phục sinh là tất cả niềm tin, lời rao giảng, và cái chết của ông. "Nếu Đức Ki-tô không sống lại thì lời rao giảng của chúng tôi thật hư không và cũng hư không việc anh em tin...”[11]. Và trong niềm xác tín đó Ngài nói với chúng ta như đã nói với môn đệ Timôthê: "Cha đã đấu trong cuộc đấu cao đẹp, đã chạy hết chặng đường và đã giữ vững niềm tin”[12]. Niềm tin vào một Đức Giê-su Ki-tô Phục sinh mạnh đến độ khiến ông phải thốt lên: “Tôi sống, nhưng không phải là tôi, mà là Đức Ki-tô sống trong tôi” (Gl 2, 20). Điều này còn được thánh nhân công bố cách quyết liệt: “Tôi coi tất cả mọi sự là thiệt thòi, so với mối lợi tuyệt vời, là được biết Đức Giê-su Ki-tô, Chúa của tôi […] được biết chính Đức Ki-tô, nhất là biết Người quyền năng thế nào nhờ đã Phục sinh”[13].

2.  Nhờ Thần Khí, chúng ta được làm con Thiên Chúa

Vị Tông Đồ dân ngoại đã có một ký ức sâu đậm về Đức Giê-su Ki-tô. Vậy phải chăng thánh nhân được nhận biết Thiên Chúa là do tự sức mình kiếm tìm? Không! Nhưng do lòng yêu thương của Đức Giê-su, qua sự tác động của Chúa Thánh Thần khiến ngài được ơn biến đổi, biến đổi hoàn toàn. Về điều này, thánh nhân đã xác tín rằng “Chính Thánh Thần mạc khải cho loài người biết Đức Giê-su là ai. Không ai có thể tuyên xưng “Đức Giê-su là Chúa, nếu không nhờ tác động của Thánh Thần”
[14]. Và “không ai biết được những gì nơi Thiên Chúa, nếu không phải là Thánh Thần của Thiên Chúa”[15]. Chỉ mình Thiên Chúa biết trọn vẹn về Thiên Chúa. Chúng ta tin vào Thánh Thần vì Người là Thiên Chúa.

   Thánh nhân cũng cảm nghiệm được rằng nhờ sự hướng dẫn của Chúa Thánh Thần mà chúng ta trở thành “con”: “Quả vậy, phàm ai được Thần Khí Thiên Chúa hướng dẫn, đều là con cái Thiên Chúa. Phần anh em, anh em đã không lãnh nhận Thần Khí khiến anh em trở thành nô lệ và phải sợ sệt như xưa, nhưng là Thần Khí làm cho anh em nên nghĩa tử, nhờ đó chúng ta được kêu lên: "Áp-ba! Cha ơi!" Chính Thần Khí chứng thực cho thần trí chúng ta rằng chúng ta là con cái Thiên Chúa. Vậy đã là con, thì cũng là thừa kế, mà được Thiên Chúa cho thừa kế, thì tức là đồng thừa kế với Đức Ki-tô; vì một khi cùng chịu đau khổ với Người, chúng ta sẽ cùng được hưởng vinh quang với Người”
[16].

   Đời sống thiêng liêng luôn cần phải kêu cầu ơn Chúa Thánh Thần để Người hướng dẫn, đánh động, biến đổi, thánh hóa, canh tâm mỗi ngày. Chúng ta mới có thể cất tiếng gọi Thiên Chúa là “Ap-ba! Cha ơi!” Chúa Thánh Thần là món quà quý giá và cần thiết làm cho chúng ta thành con cái Thiên Chúa, là điều thể hiện việc nhận làm nghĩa tử mà mọi người đều được mời gọi, vì như lời chúc lành của Thiên Chúa chứa đựng trong thư gửi tín hữu Êphêsô, Thiên Chúa, trong Đức Ki-tô, “đã chọn chúng ta trước khi tạo thành vũ trụ, để trước thánh nhan Ngài, chúng ta trở nên tinh tuyền thánh thiện, nhờ tình thương của Ngài. Ngài đã tiền định cho ta làm nghĩa tử nhờ Đức Giê-su Ki-tô”
[17].

Trong bài giáo lý của Đức Thánh Cha Bênêđíctô XVI về “Thiên Chúa là Cha chúng ta trong các thư của Thánh Phao-lô” ở đoạn kết Đức Thánh Cha kêu mời: “Chúng ta hãy mở lời cầu nguyện của chúng ta ra cho tác động của Chúa Thánh Thần để Ngài có thể kêu lên “Abba! Cha ơi!” cùng Thiên Chúa trong chúng ta, và cho lời cầu nguyện của chúng ta có thể thay đổi và liên tục hoán cải cách suy nghĩ và hành động của chúng ta ngõ hầu làm cho nó phù hợp hơn với Con Một Thiên Chúa, là Đức Chúa Giê-su Ki-tô”
[18].

3.   Cách thức xứng hợp để thờ phượng Thiên Chúa

 Khi tin vào một ai hay một điều gì, người ta muốn tìm hiểu sâu sa về đối tượng mình tin: Có một điều gắn liền với đức tin là người tin ước muốn được biết rõ hơn về Đấng mình tin và hiểu rõ hơn về điều Người mạc khải; trái lại, một hiểu biết thấu đáo hơn lại đòi hỏi một đức tin lớn hơn. Ơn đức tin mở “con mắt tâm hồn”(Ep 1,18) dẫn đến một hiểu biết sống động về nội dung mạc khải, tức là về toàn bộ ý định của Thiên Chúa và những mầu nhiệm đức tin, về tương quan giữa các mầu nhiệm với nhau và với Đức Ki-tô, trung tâm của mầu nhiệm được mạc khải. Đàng khác, để “làm cho việc hiểu biết mạc khải luôn thêm sâu sắc, Thánh Thần không ngừng nhờ ân huệ của Người giúp đức tin được thêm hoàn hảo. Thánh Âutinh nói: “Tôi tin để hiểu và tôi hiểu để tin tốt hơn”
[19].

Trước hết, người được Thần Khí hướng dẫn phải đáp trả lời mời gọi của Thiên Chúa. Thánh Phao-lô đã định nghĩa: “Đức tin là lời đáp trả thích đáng của con người trước lời mời gọi của Thiên Chúa. Kinh Thánh gọi cách đáp trả này là “sự vâng phục bằng đức tin”(x. Rm 1,5; 16, 26). Trong thư gửi tín hữu Rô-ma, thánh Phao-lô đưa ra mẫu gương về sự đáp trả: Ông Ápraham tin vào Thiên Chúa và vì thế, ông được kể là “người công chính”( Rm 4,3). Nhờ đức tin vững mạnh ấy, ông trở thành “tổ phụ của tất cả những người tin.”
[20]

Thứ đến, một cách thức tôn thờ Thiên Chúa khác nữa, đó là sống trong niềm tri ân cảm mến. Bởi trước mặt Thiên Chúa, theo thánh Phao-lô chúng ta chẳng có gì: “Bạn có gì mà đã không nhận lãnh?”[21] Sách Giáo Lý Hội Thánh Công Giáo số 224, dạy chúng ta tìm cách đáp trả: “Lấy chi đền đáp Chúa, vì mọi ơn lành Người đã ban cho?”[22] Khi đã ý thức được những đòi hỏi của Thần Khí, con người hăng say cộng tác vào các chương trình của Thiên Chúa bằng hành động, bằng lời cầu nguyện, bằng chính đau khổ của mình[23].

“Loan báo sự phong phú khôn lường của Đức Ki-tô”
[24] cũng là một cách thức tôn thờ Thiên Chúa. Thánh Phao-lô đã quả quyết: “Đức Ki-tô đã chết vì tội lỗi chúng ta, đúng như Lời Kinh Thánh, rồi Người đã được mai táng, và ngày thứ ba đã chỗi dậy, đúng như Lời Kinh Thánh”[25]. Điều này cũng được Đức Giáo Hoàng Bênêđíctô XVI, trong Thông điệp Humani Generis, số 7, ngài đã khai triển về thánh Phao-lô cách xác tín như sau:

Nếu thử tìm xem Thánh Phao-lô vốn quen giảng dạy những đề tài nào, chúng ta sẽ thấy rằng chính Ngài đã đem tất cả chủ đề giảng dạy của Ngài vào trong câu này: “Vì hồi còn ở giữa anh em, tôi đã không muốn biết đến chuyện gì khác ngoài Đức Giê-su Ki-tô, mà là Đức Giê-su Ki-tô chịu đóng đinh vào thập giá”(1Cr 2,2). Phải làm sao cho mọi người nhận biết Đức Giê-su Ki-tô hơn, và nhờ đó, họ biết không những điều phải tin, mà còn cách thế phải sống ở đời nữa.
 
Cuối cùng, sống theo sự thật cũng là cách tôn thờ Thiên Chúa cách hữu hiệu. Trong thư gửi tín hữu Galát thánh Phao lô viết: “Hãy sống theo Thần Khí và như vậy, anh em sẽ không còn thỏa mãn đam mê của tính xác thịt nữa. Vì tính xác thịt thì ước muốn những điều trái ngược với Thần Khí, còn Thần Khí lại ước muốn những điều trái ngược với tính xác thịt, đôi bên kình địch nhau, khiến anh em không làm được điều anh em muốn”
[26]. Trái lại: “Ai theo tính xác thịt mà gieo điều xấu, thì sẽ gặt được hậu quả của tính xác thịt, là sự hư nát. Còn ai theo Thần Khí mà gieo điều tốt, thì sẽ gặt được kết quả của Thần Khí, là sự sống đời đời”[27]. Như vậy, sống theo sự thật chính là sống theo thánh ý Thiên Chúa. hay nói cách khác, sống theo sự hướng dẫn của Thần Khí Thiên Chúa chúng ta sẽ tìm được một sự bảo đảm mà thánh Gio-an đã quả quyết: “Sự thật sẽ giải phóng anh em.”[28]

II.      Đức mến là điểm mấu chốt cho sự phân định

1.   Chẳng là gì nếu không có Đức mến

Khi đặt vấn đề “Đức mến” là điểm mấu chốt cho sự phân định đời sống thiêng liêng, chúng ta bắt gặp những lời giáo huấn của thánh Phao-lô trong thư thứ nhất gửi cho cộng đoàn tín hữu Cô-rin-tô
[29] nhằm giúp họ ý thức về những giá trị của đức mến qua lối nói giả định:

Giả như tôi có nói được các thứ tiếng của loài người và của các thiên thần đi nữa, mà không có đức mến, thì tôi cũng chẳng khác gì thanh la phèng phèng, chũm chọe xoang xoảng. Giả như tôi được ơn nói tiên tri, và được biết hết mọi điều bí nhiệm, mọi lẽ cao siêu, hay có được tất cả đức tin đến chuyển núi dời non, mà không có đức mến, thì tôi cũng chẳng là gì. Giả như tôi có đem hết gia tài cơ nghiệp mà bố thí, hay nộp cả thân xác tôi để chịu thiêu đốt, mà không có đức mến, thì cũng chẳng ích gì cho tôi.
 
Sau những giả định nhằm khẳng định giá trị cao quý của đức mến đối với người sống trong Thần Khí như thế nào; đó đó thánh nhân đã liệt kê những hệ quả mà đức mến mang lại:
Đức mến thì nhẫn nhục, hiền hậu, không ghen tương, không vênh vang, không tự đắc, không làm điều bất chính, không tư lợi, không nóng giận, không nuôi hận thù, không mừng khi thấy sự gian ác, nhưng vui khi thấy điều chân thật. Đức mến tha thứ tất cả, tin tưởng tất cả, chịu đựng tất cả.Đức mến không bao giờ mất được. Hiện nay đức tin, đức cậy, đức mến, cả ba đều tồn tại, nhưng cao trọng hơn cả là đức mến­
[30].
 
Hơn thế nữa, thánh Phao-lô còn nêu ra những gì nhờ đức mến mà chúng ta đạt được như là những hoa trái của Chúa Thánh Thần: “Hoa quả của Thần Khí là: bác ái, hoan lạc, bình an, nhẫn nhục, từ tâm, trung tín, hiền hòa, và tiết độ. Nếu chúng ta sống nhờ Thần Khí thì cũng hãy nhờ Thần Khí mà tiến bước”
[31].

2.   Yêu thương là chu toàn Lề Luật

Trong đời sống thiêng liêng của mình, chúng ta làm sao biết được mình đi đúng đường theo sự hướng dẫn của Thần Khí? Đâu là cầu nối giữa người có được thần khí hướng dẫn với Lề Luật? Những câu hỏi này đều được thánh Phao-lô giúp chúng ta để trả lời qua thuật ngữ “yêu thương”. Theo thánh nhân “yêu thương” là chu toàn Lề Luật
[32]. Thánh Phao-lô còn cho chúng ta biết những cách để yêu thương: “Anh em đừng mắc nợ gì ai, ngoài món nợ tương thân tương ái, vì ai yêu người thì đã chu toàn Lề Luật, đã yêu thương thì không làm hại người đồng loại; yêu thương là chu toàn Lề Luật vậy” (Rm 13, 8.10). Nói một cách khác, lòng thương yêu người anh chị em mình là cách thế tốt đẹp nhất, đích thực nhất để tỏ ra lòng ta yêu mến Thiên Chúa.

Đồng thời, thánh nhân cũng cảnh giác chúng ta không được tìm hư danh, cũng đừng khiêu khích, ganh tị nhau, nhưng trái lại hãy mang lấy gánh nặng cho nhau
[33] hãy lấy đức mến mà phục vụ lẫn nhau. Vì tất cả Lề Luật được nên trọn trong điều răn duy nhất này là: hãy yêu mến tha nhân như chính mình ngươi (Gl 5, 13-14). Lời này thúc đẩy chúng ta đến lòng yêu thương liên đới, cùng nhạy cảm với nhu cầu, ước vọng, quyền lợi chính đáng của anh chị em mình; đến lòng yêu thương tôn trọng phẩm giá con người; đến lòng yêu thương tinh tuyền, toàn diện, có khả năng chia sẻ, mở rộng đến mọi người, như Đức Giê-su đã dạy chúng ta.Ta không thể thực hiện lòng yêu thương này, nếu ta không sẵn sàng vượt ra khỏi tính ích kỷ và thái độ tự mãn của mình. Vì thế, lời này giúp chúng ta vượt trên tất cả mọi khuynh hướng như: kiêu ngạo, tham lam, ưa khoái lạc, tham vọng, phù phiếm, v.v, mà chúng tạo nên cản trở chính cho lòng yêu thương ấy (x. Rm 12,9-21).

III.   Cộng đoàn thăng tiến

Hiệp nhất, yêu thương, và mưu cầu ích chung là ba đặc tính làm cho một cộng đoàn thăng tiến cách viên mãn nhất. Đây là dấu chỉ cho thấy, Thần Khí Thiên Chúa đang hoạt động trong cộng đoàn.

1.     Cộng đoàn hiệp nhất

Khi tin vào Thiên Chúa Ba Ngôi, con người cũng theo gương Thiên Chúa Ba Ngôi mà yêu thương và hiệp nhất với Ba Ngôi Thiên Chúa, làm chứng để thế gian biết và cộng tác vào kế hoạch của Thiên Chúa là hiệp nhất mọi người và toàn thể vũ trụ vào Chúa Con (x. Rm 8,26). Ý thức được tầm quan trọng của sự hiệp nhất đó, dù đang phải tù đầy, thánh Phao-lô đã gửi thư khuyên nhủ cộng đoàn Ê-phê-sô sống đoàn kết yêu thương nhau: “Anh em hãy ăn ở thật khiêm tốn, hiền từ và nhẫn nại; hãy lấy tình bác ái mà chịu đựng lẫn nhau. Anh em hãy thiết tha duy trì sự hiệp nhất mà Thần Khí đem lại, bằng cách ăn ở thuận hoà gắn bó với nhau. Chỉ có một thân thể, một Thần Khí, cũng như anh em đã được kêu gọi để chia sẻ cùng một niềm hy vọng. Chỉ có một Chúa, một niềm tin, một phép rửa. Chỉ có một Thiên Chúa, Cha của mọi người, Đấng ngự trên mọi người, qua mọi người và trong mọi người
[34].

Cộng đoàn hiệp nhất là cộng đoàn được xây dựng trên nên tảng đức ái Ki-tô giáo, trên sự thật. Và như vậy, Thiên Chúa mới hiện diện nơi cộng đoàn, và trong tâm hồn của mỗi người chúng ta. Bởi vì “ở đâu có hai hay ba người trong anh em hợp lại cầu xin bất cứ điều gì, thì Cha Thầy Đấng ngự trên trời sẽ ban cho.”
[35] Để sự hiệp nhất được ngày một trở nên bền vững viên mãn, thánh Phao-lô đã khuyên nhủ chúng ta như đã từng khuyên nhủ cộng đoàn tín hữu Ê-phê-sô phải sống khiêm tốn, bác ái. Anh em hãy thiết tha duy trì sự hợp nhất mà Thần Khí đem lại, bằng cách ăn ở thuận hoà gắn bó với nhau”( x. Ep 4,2-4). Theo thánh Phao-lô, nếu mỗi cộng đoàn thực hiện được như vậy thì cộng đoàn đó đã được đầy tràn một Thần Khí duy nhất (x. 1Cr 12,12-13).

2.   Mưu cầu ích chung

Ngay từ thời Giáo Hội sơ khai, các thánh Tông đồ và các cộng đoàn tín hữu đầu tiên đã thực hành đời sống chung trong sự hợp nhất
[36], và tất cả vì lợi ích chung. Nên tất cả mọi người hãy tìm mọi cách thể để làm cho mọi người tin vào Đức Giê-su Ki-tô Tử nạn và Phục sinh[37]: “Anh em có làm gì, nói gì, thì hãy làm hãy nói nhân danh Chúa Giê-su, và nhờ Người mà cảm tạ Thiên Chúa Cha. (Cl 3, 17). Ý thức được điều này, thánh Phao-lô đã không ngừng dạy dỗ các tín hữu của mình tránh tìm kiếm lợi ích cá nhân nhưng hãy cùng nhau hướng tới ích lợi của cộng đoàn: “Đừng ai tìm ích lợi cho riêng mình, nhưng hãy tìm lợi ích cho người khác” (1Cr 10, 24). Khi mưu cầu lợi ích chung như vậy là cách chúng ta tôn vinh Thiên Chúa, điều này được Thánh Phao-lô nhấn mạnh một cách triệt để ngay cả trong những sinh hoạt thường ngày: “Vậy, dù ăn, dù uống, hay làm bất cứ việc gì, anh em hãy làm tất cả để tôn vinh Thiên Chúa” (1Cr 10, 31). Mặc dù, Thần Khí thể hiện nơi mỗi người một cách: kẻ được ơn nói tiên tri, người làm ngôn sứ, kẻ khác được ơn hiểu biết để trình bày, được ơn chữa bệnh, được ơn ban cho lòng tin, được ơn nói tiếng lạ, được ơn giải thích các tiếng lạ, được ơn phân định thần khí[38] nhưng Thần Khí tỏ nơi mỗi người một cách như vậy là vì ích chung[39].

Thánh Phao-lô còn nói một cách cụ thể hơn trong thư gửi tín hữu Phi-lip-phê: "Ðừng làm chi vì ganh tị hay vì hư danh, nhưng hãy lấy lòng khiêm nhường mà coi người khác hơn mình. Mỗi người đừng tìm lợi ích cho riêng mình, nhưng hãy tìm lợi ích cho người khác. Giữa anh em với nhau, anh em hãy có những tâm tình như chính Ðức Ki-tô Giê-su” (Pl 2, 3-4). Cùng trong suy tư này, thánh Phao-lô trong thư gửi tín hữu Cô-lô-xê đã xác tín về việc phục vụ ích lợi chung là phục vụ chính Đức Giê-su. Bởi vì, theo thánh Phao-lô, Đức Ki-tô là chủ và chúng ta là người phục vụ Người; do vậy, người phục vụ khi làm bất cứ điều gì hãy tận tâm như thể làm cho Chúa; và vì thế chúng ta sẽ nhận được phần thưởng Chúa ban là gia nghiệp dành cho dân Người (x. Cl 3,23-24).

Mưu cầu lợi ích chung còn được thánh nhân ví như các bộ phận của thân thể, và tất cả các bộ phận riêng lẻ gộp lại làm nên một con người tròn đầy; tròn đầy trong nhân cách, tròn đầy trong ân sủng, tròn đầy trong yêu thương: “Thiên Chúa đã khéo xếp đặt các bộ phận trong thân thể, để bộ phận nào kém thì được tôn trọng nhiều hơn. Như thế không có chia rẽ trong thân thể, trái lại các bộ phận đều lo lắng cho nhau. Nếu một bộ phận nào đau, thì mọi bộ phận cùng đau. Nếu một bộ phận nào được vẻ vang, thì mọi bộ phận cùng vui chung” (1Cr 12, 24-26).

3.       Cộng đoàn yêu thương

Khi thực hiện sứ vụ công khai của mình, Đức Giê-su đã không ngừng giảng dạy về “yêu thương”, thực hành về “yêu thương” và cuối cùng đã chết trên thập giá vì “yêu thương”. Yêu thương trở nên điều luật trọng yếu của Giáo lý Ki-tô giáo. Thánh Phao-lô sau biến cố “ngã ngựa” với ký ức về một Đức Giê-su Ki-tô Tử nạn và Phục sinh, đã được thôi thúc không ngừng đi loan báo Tin Mừng “tình thương” mà ngài đã lãnh nhận được. Thánh Phao-lô cũng cho thấy ý Chúa là yêu thương và phục vụ nhau (x. Rm 12,1-2). Điều này được thánh nhân cụ thể hóa trong lời cầu nguyện cho cộng đoàn Thê-xa-lô-ni-ca: “Xin Chúa cho thình thương của anh em đối với nhau và đối với mọi người ngày càng thêm đậm đà thắm thiết, cũng như tình thương của chúng tôi đối với anh em vậy. Như thế, Chúa sẽ cho anh em được bền tâm vững chí, được trở nên thánh thiện, không có gì đáng chê trách, trước nhan Thiên Chúa là Cha chúng ta, trong ngày Đức Giê-su, Chúa chúng ta, quang lâm cùng với các thánh của Người” ( 1Tx 3, 12-13).

Trong khi tiếp xúc với đời sống của các tín hữu nơi các cộng đoàn, với tư cách là người cha nhân hậu, người thầy khả ái, thánh Phao-lô cũng không quên cảnh giác con cái của mình về sự bất hòa có thể xẩy ra, để khi có những chuyện đó xảy ra thì cũng biết cách mà đối xử, mà đồng cảm với tha nhân trong tình yêu của Đức Giê-su Ki-tô qua những hành động cụ thể và sống động nhưng có sức biến đổi và hòa giải: “Đừng lấy ác báo ác, vì có lời chép: Đức Chúa phán: chính Ta sẽ báo oán, chính Ta sẽ đáp trả. Trái lại, kẻ thù ngươi có đói, hãy cho nó ăn; có khát, hãy cho nó uống. Đừng để cho sự ác thắng được mình, nhưng hãy lấy thiện mà thắng ác.” (Rm 12,17a.19b-20a.21); và “hãy vui mừng luôn mãi và cầu nguyện không ngừng. Hãy tạ ơn trong mọi hoàn cảnh. Anh em hãy làm như vậy, đó là điều Thiên Chúa muốn trong Đức Ki-tô Giê-su” (1Tx 5, 16-18).

Bên cạnh việc cảnh giác con cái của mình trước nguy cơ chia rẽ có thể xảy ra, thánh Phao-lô luôn đề cao các đức tính: chân thật, chính trực, tinh tuyền…nơi các cộng đoàn tín hữu; như là những đức tính cần thiết cho việc xây dựng cộng đoàn yêu thương. Điều này được thánh nhân gút lại trong thư gửi tín hữu Phi-líp-phê: “Những gì là chân thật, cao quý, những gì là chính trực, tinh tuyền, những gì là đáng mến và đem lại danh thơm tiếng tốt, những gì là đức hạnh, đáng khen, thì xin anh em hãy để ý. Và Thiên Chúa là nguồn bình an sẽ ở với anh em (Pl 4,8.9b).

Theo thánh Phao-lô, yêu thương cũng là một ơn mà người tín hữu cần phải có, nên yêu thương không phải là điều tự bản chất con người có thể có, nhưng là do Thần Khí tác động; do vậy, yêu thương phải là ơn của Thiên Chúa ban cho ta: “Anh em là những người được Thiên Chúa tuyển lựa, hiến thánh và yêu thương”
[40] Và để gìn giữ ân huệ cao quý này, thánh nhân đưa ra các phương thế: “Anh em hãy có lòng thương cảm, nhân hậu, khiêm nhu, hiền hòa, và nhẫn lại. Hãy chịu đựng và tha thứ cho nhau, nếu trong anh em người này có điều gì phải trách móc người kia. Chúa đã tha thứ cho anh em thì anh em cũng vậy, anh em phải tha thứ cho nhau” (x. Cl 3, 12-13). Thánh nhân cũng xác tín về sự yêu thương nơi mỗi cộng đoàn tín hữu và mời gọi họ hãy làm triển nở thêm: “Chính anh em đã được Thiên Chúa dạy phải yêu thương nhau… chúng tôi kêu gọi anh em hãy tiến tới nhiều hơn nữa” (1 Tx 4, 9-10).

Tóm kết

Trong đời sống tâm linh, mỗi người Ki-tô hữu có những lúc phải đối mặt với những thử thách, điều có thể làm đức tin của chúng ta bị chao đảo, suy yếu; hay vụt tắt. Những lúc như thế, chúng ta cần phải được phân định để biết rõ Thần Khí đang hoạt động nơi chúng ta là loại thần khí nào? Trong hành hình đức tin của mình, thánh Phao-lô một cách nào đó đã cho chúng một số tiêu chuẩn phân định khi nào Thần Khí sự thiện hay thần khí sự ác hoạt động trong ta. Từ một con người nhiệt thành với đạo Do Thái giáo, Phao-lô ra sức bắt bớ đạo Chúa nhưng chính ông lại bị Chúa Giê-su Phục sinh quy phục. Và cũng từ biến cố này, thánh nhân đã sống vì Đức Giê-su; rao giảng về Người, và muốn kết hiệp mật thiết với Người: “Sống là Đức Ki-tô”
[41]. Với một lòng mến yêu Đức Giê-su và Hội Thánh của Người, thánh nhân đã không ngừng dạy dỗ yêu thương, củng cố sự hiệp nhất nơi các cộng đoàn, và tìm cách làm cho cộng đoàn ngày một phát triển hơn. Những đề tài này được thánh nhân coi là những tiêu chuẩn sống theo Đức Ki-tô Phục sinh cách chắc chắn, điều mà thánh nhân cảm nghiệm được. Điều này cho chúng ta thấy được rằng chỉ có ơn thánh của Thần Khí sự thật, chúng ta mới có thể làm được những điều yêu thương hay xây dựng sự hiệp nhất nơi cộng đoàn, cũng như làm cho cộng đoàn được thăng tiến mỗi ngày vì “chẳng có ai ở trong Thần Khí Thiên Chúa mà lại nói: "Giê-su là đồ khốn kiếp!"; cũng không ai có thể nói rằng: "Đức Giê-su là Chúa", nếu người ấy không ở trong Thần Khí”[42]. Như thế, một người luôn cổ vũ lòng yêu thương, xây dựng sự hiệp nhất nơi cộng đoàn…hẳn phải hiểu là nơi người đó có sự tác động của Thần Khí Thiên Chúa. Nói cách khác, ta chỉ có thể có một đức tin vững mạnh vào một Thiên Chúa duy nhất, một đời sống yêu thương tròn đầy, và cộng đoàn thăng tiến bền vững khi chúng ta được Thần Khí Chúa soi dẫn. Đó đó, hễ người nào thực hiện những gì trái nghịch với đức tin vào Đức Giê-su Ki-tô Tử nạn và Phục sinh, không xây dựng cộng đoàn hiệp nhất yêu thương thì người đó đang bị thần khí xấu tác động, và sự thật[43] không ở nơi người ấy.
 
 
 

[1] Gl 5,16-24.
[2] Lm. Giuse Phạm Quốc Văn, OP., Tự đào tạo & đào tạo khả năng phân định, tr 25.
[3] Cv 9,1-3.
[4] Saolô tên gọi của thánh Phaolô trước khi được Chúa gọi.
[5] Cv 9, 3-9.
[6] Cv9,8.
[7] Cv9; 22; 26, 1Cr 9,1; Gal1,11.
[8] Rm 8,38.
[9] Ep 1:4.
[10] 1Cor 1, 23.
[11] 1 Cor 15, 14.
[12] 2Tm 4,7.
[13] Pl 3, 8.10.
[14] 1 Cr 12,3.
[15] 1 Cr 2, 10-11.
[16] Rm 8,14-17.
[17] Ep 1:4.
[18] Bài Giáo Lý thứ 35 về cầu nguyện của ĐTC Bênêđictô XVI ban hành trong buổi triều yết chung ngày Thứ Tư 23 tháng 5 năm 2012 tại Quảng Trường Thánh Phêrô. Hôm nay ĐTC tiếp tục bàn về việc cầu nguyện trong các Thư của Thánh Phaolô, bản dịch của Paul. Phạm Xuân Khôi.
[19] GLHTCG 158.
[20] Rm 4, 11.18.
[21] Cr 4,7.
[22] GLHTCG, số 224.
[23] Cl 1,24.
[24] Ep 3,8.
[25] 1Cr 15,3-4.
[26] Gl 5, 16-17.
[27] Gl 6,8.
[28] Ga 8, 31 – 47.
[29] 1Cr. 13,1-3.
[30] 1Cr. 13,4-8.13.
[31] Gl 5, 22.23a-25.
[32] Rm 13, 10.
[33] Gl 5, 26; 6,2.
[34] Ep 4, 2-6.
[35] Mt 18, 19-20.
[36] Cv 1, 14.
[37] Cv 1, 21.
[38] 1 Cr 12: 8-10.
[39] Xc 1 Cr 12: 7.
[40] Cl 3, 12a.
[41] Pl 1, 21.
[42] 1 Cr 12, 3.
[43] 1Ga 2,4.

Tài liệu tham khảo
1.      ĐGH. Bênêđíctô XVI, Huấn thị về Quyền bính và Vâng phục, bản dịch nữ tu Maria Trần thị Sâm, Op., Nxb Tôn giáo, năm 2009
2.      Lm. Antôn Ngô Văn Vững, Vì Nước Trời độc thân khiết tịnh, Nxb Tôn giáo, Tp. HCM, 2009.
3.      ĐGH Gioan Phaolô II, Thông điệp về Chúa Thánh Thần, 1997.
4.      Hoàng Quý, Chúa Thánh Linh quà tặng tuyệt vời, Phụng sự, 1998.
5.      Các chuyên đề về khóa bồi dưỡng về đời tu, lưu hành nội, bộ, Rô-ma 2003.
6.      Lm. Giuse Phạm Quốc Văn, Op. Sống theo sự hướng dẫn của Thánh Thần (Giáo trình Thần học Tâm linh), lưu hành nội bộ, 2012.
7.      
Giáo lý Hội Thánh Công Giáo. bản dịch của Ban Giáo Lý thuộc HĐGMVN. Nxb Tp. Hồ Chính Minh, 1998.
 

Tác giả bài viết: Tu sĩ Phê-rô Vũ văn Vượng CSC

Tổng số điểm của bài viết là: 167 trong 41 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn